Những thắng lợi của quân và dân ta trong những năm sau hiệp định Pari về Việt Nam năm 1973 đến đầu 1975. Nêu thắng lợi lớn nhất và ý nghĩa lịch sử của thắng lợi đó.
* Hoàn cảnh:
Với Hiệp định Pari 1973, ta đã “đánh cho Mĩ cút”. Ngày 29/3/1973 toán lính Mĩ cuối cùng rút khỏi nước ta, song do “ngụy chưa nhào”, Mĩ vẫn giữ lại hơn 2 vạn cố vấn quân sự, lập ra Bộ chỉ huy quân sự, tiếp tục viện trợ quân sự, kinh tế cho chính quyền Sài Gòn.
Việc kí Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam, việc quân dội Mĩ rút khỏi nước ta, đã tạo nên sự thay đổi căn bản trong so sánh lực lượng giữa cách mạng và phản cách mạng có lợi cho cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam.
* Diễn biến
Được cố vấn Mĩ chỉ huy và nhận viện trợ của Mĩ, chính quyền Sài Gòn ngang nhiên phá hoại Hiệp định Pari. Chúng huy động gần như toàn bộ lực lượng tiến hành chiến dịch “tràn ngập lãnh thổ”, liên tiếp mở những cuộc hành quân “bình định – lấn chiếm” vùng giải phóng của ta. Đây thực chất là hành động tiếp tục chiến lược “VN hóa chiến tranh” của Ních xơn.
Trong cuộc đấu tranh chống “bình định – lấn chiếm”, chống âm mưu “tràn ngập lãnh thổ” của chúng những tháng đầu sau khi kí Hiệp định Pari, quân dân ta đã đạt được một số kết quả nhất định. Nhưng do không đánh giá hết âm mưu phá hoại Hiệp định của địch, do quá nhấn mạnh đến hòa bình, hòa hợp dân tộc… nên tại một số địa bàn quan trọng, chúng ta bị mất đất, mất dân.
Nắm bắt tình hinhg trên, tháng 7/1973, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp Hội nghị lần 21. Trên cơ sở nhận định kẻ thù vẫn là đế quốc Mĩ và tập đoàn Nguyễn Văn Thiêu – kẻ đang phá hoại hòa bình, hòa hợp dân tộc, ngăn cản nhân dân ta đi tới độc lập, tự do, thống nhất Tổ Quốc. Hội nghị nêu rõ nhiệm cụ cơ bản của CM miền Nam trong giai đoạn hiện tại là tiếp tục cuộc CM dân tộc dân chủ nhân dân và nhấn mạnh trong bất cứ tình hình nào cũng phải tiếp tục con đường cách mạng bạo lực, phải nắm vững chiến lược tiến công, kiên quyết đấu tranh trên cả ba mặt trận: quân sự, chính trị, ngoại giao.
Thực hiện nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 21 của Đảng, từ cuối năm 1973, quân dân ta ở miền Nam không những kiên quyết đánh trả địch, bảo vệ vùng giải phóng mà còn chủ động mở những cuốc tiến công địch tại những căn cứ xuất phát các cuộc hành quân của chúng, mở rộng vùng giải phóng.
Cuối 1974 đầu 1975, t mở đợt hoạt động quân sự vào hướng Nam Bộ, trọng tâm là đồng bằng sông Cửu Long và Đông Nam Bộ. Quân ta đã giành thắng lợi vang dội trong chiến dịch đường 14 – Phước Long (từ ngày 12/12/1974 đến ngày 6/1/1975), loại khỏi vòng chiến đấu 3000 địch, giải phóng Đường 14, thị xã và toàn tỉnh Phước Long với 50.000 dân.
Sau chiến thắng này của ta, chính quyền Sài Gòn phản ứng mạnh và đưa quân đến hòng chiếm lại, nhưng đã thất bại. Mĩ chỉ phản ứng yếu ớt, chủ yếu dùng áp lực đe dọa từ xa.
Từ cuối 1973 đến đầu 1975, ta đã hợp nhất các sư đoàn chủ lực thành các quân đoàn lớn, chuẩn bị cho cuộc tổng tiến công và giải phóng hoàn toàn miền Nam:
Tháng 10/1973 lập quân đoàn 1 đóng ở Bắc Bộ
Tháng 5/1975 lập quân đoàn 2 đóng ở Trị Thiên
Tháng 7/1974 lập quân đoàn 4 đóng ở Đông Nam Bộ
Tháng 3/1975 lập quân đoàn 3 đóng ở Tây Nguyên.
Phối hợp với đấu tranh quân sự, nhân dân ta ở miền Nam đẩy mạnh đấu tranh chính trị, ngoại giao nhằm tố cáo hành động của Mĩ và chính quyền Sài Gòn vi phạm Hiệp định, phá hoại hòa bình, hòa hợp dân tộc, nêu cao tính chất chính nghĩa cuộc chiến đấu của nhân dân ta, đòi lật đổ chính quyền Nguyễn Văn Thieeuk, thực hiện các quyền tự do dân chủ.
Tại các vùng giải phóng, đồng thời với cuộc đấu tranh bảo vệ quê hương, nhân dân ta ra sức khôi phục và đẩy mạnh sản xuất, tăng nguồn dự trữ chiến lược cho cuộc chiến đấu hoàn thành giải phóng miền Nam. Các ngành sản xuất công nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp, các mặt hoạt động văn hóa, xã hội, giáo dục, y tế cũng được đẩy mạnh.
* Thắng lợi lớn nhất: Chiến thắng Phước Long ngày 6/1/1975
Chiến thắng này có ý nghĩa lịch sử quan trọng. Nó đã chứng tỏ quân chủ lực Sài Gòn đã đến lúc không còn đủ khả năng chiếm giữ những vùng đất quan trọng trên diện rộng. Làm cho tinh thần chiến đấu của quân đội Sài Gòn thêm hoang mang, mất tinh thần chiến đấu. Với chiến thắng Phước Long chứng tỏ khả năng mới của quân dân ta có thể giành thắng lợi loén trong thời gian ngắn với tốc độ nhanh. Đồng thời, với chiến thắng này đã đặt cơ sở để Bộ chính trị quyết định giải phóng miền Nam trong năm 1975.