14

bài tập

Bài 1.
ĐỀ THI THỬ SỐ 5
PHẦN I: BẮT BUỘC ĐỐI VỚI MỌI THÍ SINH
Câu 1: Quá trình xây dựng lực lượng, chuẩn bị cho kháng chiến lâu dài chống Pháp xâm lược khi mở đầu cuộc kháng chiến?(2 điểm)
Câu 2: Công cuộc cải tạo quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc từ năm 1958 đến năm 1960 đã đạt được những thành tựu và có những hạn chế gì? (2 điểm)
Câu 3: Chiến dịch chủ động tiến công lớn đầu tiên của bộ đội chủ lực ta trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 – 1954) là chiến dịch nào? Tóm tắt hoàn cảnh lịch sử, chủ trương của ta và ý nghĩa chiến dịch đó. (3 điểm)

PHẦN II
Câu 4: Nước Cộng hòa Dân chủ Triều Tiên và Đại Hàn Dân Quốc đã ra đời trong bối cảnh nào? Quan hệ giữa hai miền Nam, Bắc trên bán đảo Triều Tiên có những chuyển biến gì từ những năm 70 đến năm 2000?
 ĐÁP ÁN
PHẦN I: BẮT BUỘC ĐỐI VỚI MỌI THÍ SINH
Câu 1: Quá trình xây dựng lực lượng, chuẩn bị cho kháng chiến lâu dài chống Pháp xâm lược khi mở đầu cuộc kháng chiến?(2 điểm)
Ngay khi kí với Pháp hiệp định Sơ bộ và Tạm ước, Đảng ta đã xác định không thể tránh khỏi cuộc chiến tranh với Pháp, cuộc chiến này sẽ kéo dài, nên chúng ta đã có sự chuẩn bị tiếp tục xây dựng căn cứ địa Việt Bắc. 
Sau ngày toàn quốc kháng chiến, Đảng ta chủ động tiến hành cuộc chiến đấu trong các đô thị để chúng ta có thời gian di chuyển các cơ quan đầu não Đảng, Chính phủ, Mặt trận và đoàn thể cùng với máy móc, dụng cụ cần thiết lên căn cứ địa Việt Bắc an toàn. 
Trong vòng 3 tháng đầu của cuộc kháng chiến toàn quốc, ta đã vận chuyển hơn 3 vạn tấn máy móc và dụng cụ sản xuất, hàng vạn tấn nguyên vật liệu về chiến khu để tiếp tục sản xuất, phục vụ nhu cầu kháng chiến. Riêng ở Bắc Bộ, gần 2/3 số máy móc được chuyển lên căn cứ địa Việt Bắc. Với khẩu hiệu “vườn không nhà trống!”, “tản cư cũng là kháng chiến!”, “phá hoại để kháng chiến!”, nhân dân các đô thị nhanh chóng tản cư ra các vùng hậu phương và tiến hành phá hủy nhà cửa, đường sá, cầu cống… không cho địch sử dụng. 
Đảng, Chính phủ lãnh đạo và tổ chức nhân dân cả nước xây dựng lực lượng kháng chiến về mọi mặt. 
Về chính trị, các ủy ban hành chính chuyển thành Ủy ban kháng chiến hành chính, thực hiện nhiệm vụ kháng chiến và kiến quốc, mở rộng mặt trận, thành lập Hội liên hiệp quốc dan Việt Nam ( Liên Việt).
Về kinh tế, Chính phủ đề ra các chính sách nhằm duy trì và phát triển sản xuất, trước hết là sản xuất lương thực. Phát động toàn dân tham gia sản xuất với khẩu hiệu “ Thực túc binh cường”, “Ăn no đánh thắng!”. Giao ruộng đất cho nông dân, thực hiện các hình thức đổi công, hợp công… Đắp đê điều, làm thủy lợi chống thiên tai, địch họa bảo vệ sản xuất.
Về quân sự, Chính phủ quy định mọi người dân từ 18 tuổi đến 45 tuổi được tuyển chọn tham gia các lực lượng chiến đấu.
Về văn hóa, phong trào bình dân học vụ được duy trì và phát triển. Trường phổ thông các cấp vẫn tiếp tục giảng dạy và học tập trong hoàn cảnh chiến tranh. 
Với những sự chuẩn bị tích cực đó, chúng ta đã trang bị được những điều kiện cần thiết nhất cho cuộc kháng chiến lâu dài chống Pháp. 
Câu 2: Công cuộc cải tạo quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc từ năm 1958 đến năm 1960 đã đạt được những thành tựu và có những hạn chế gì? (2 điểm)
Cải tạo xã hội chủ nghĩa là thực hiện nhiệm vụ của cách mạng xã hội chủ nghĩa về quan hệ sản xuất. Việc nhận thức về cải tạo trước và nay có sự thay đổi. Trước đây quan niệm cải tạo nhằm xóa bỏ các thành phần kinh tế cá thể và tư nhân dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, chỉ để lại hai thành phần kinh tế quốc doanh và hợp tác xã dựa trên hai hình thức : sở hữu nhà nước và tập thể về tư liệu sản xuất. Sau 3 năm khôi phục kinh tế (1955 – 1957) miền Bắc nước ta có nhiều mặt tiến bộ. Tuy nhiên, kinh tế miền Bắc lúc này căn bản vẫn là nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, phân tán, lao động thủ công với năng suất thấp kém, công nghiệp nhỏ bé tồn tại nhiều thành phần. Vì vậy, Đảng và Nhà  nước đã đề ra chủ trương: trong 3 năm tiếp theo (1958 – 1960) miền Bắc lấy cải tạo xã hội chủ nghĩa làm trọng tâm:cải tạo đối với nông nghiệp, công nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp nhỏ, công thương nghiệp tư bản tư doanh, mà khâu chính là hợp tác hóa nông nghiệp. 
Thực hiện chủ trương trên, khắp nơi trên miền Bắc sôi nổi phong trào vận động xây dựng hợp tác xã. Đến cuối 1960, miền Bắc có trên 85% hộ nông dân với 70% ruộng đất vào hợp tác xã nông nghiệp, hơn 87% số thợ thủ công và 45% số người buôn bán nhỏ vào hợp tác xã. Một bộ phận thương nhân được chuyển sang sản xuất hoặc chuyển thành mậu dịch viên. Đối với tư sản dân tộc, Đảng và Nhà nước chủ trương cải tạo bằng phương pháp hòa bình, sử dụng mặt tích cực của họ phục vụ cho công cuộc xây dựng đất nước. Đến cuối 1960, có hơn 95% hộ tư sản vào công tư hợp doanh. 
Đồng thời với cải tạo là nhiệm vụ xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội, trọng tâm là phát triển thành phần kinh tế quốc doanh. Đến 1960, đã có 172 xí nghiệp lớn do trung ương quản lí và trên 500 xí nghiệp do địa phương quản lí. 
Những tiến bộ về mặt kinh tế đã tạo điều kiện cho sự nghiệp văn hóa, giáo dục, y tế phát triển, So với năm 1957, năm 1960, số học sinh tăng 80%, số sinh viên tăng gấp đôi. Các cơ sở y tế năm 1960 tăng 11 lần so với năm 1955. Đời sống văn hóa, trình độ hiểu biết của các tầng lớp nhân dân được nâng lên. 
Ngày 1/1/1960, Hiến pháp của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa được công bố, phản ánh thành tựu đạt được trong việc thực hiện kế hoạch 3 năm cùng những thay đổi lớn của miền Bắc sau hai kế hoạch ba năm (1954 – 1960).  Hiến pháp được xây dựng theo nguyên tắc xã hội chủ nghĩa. Nó khẳng định ý chí, nguyện vọng của nhân dân lao động: xây dựng CNXH ở miền Bắc, đấu tranh thống nhất nước nhà nhằm xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập và dân chủ giàu mạnh. ĐỒng thời nó đặt cơ sở cho việc xây dựng một pháp chế XHCN ở Việt Nam. Hiến pháp ra đời có tác dụng củng cố nền chuyên chính vô sản, tạo điều kiện cho nhân dân miền Bắc xây dựng CNXH. Một mặt là thực hiện thắng lợi kế hoạch 5 năm lần 1 nhằm bước đầu xây dựng cơ sở vật chất – kĩ thuật cho CNXH. Mặt khác nó cổ vũ nhân dân miền Nam trong cuộc đấu tranh nhằm đánh bại chiến tranh xâm lược của đế quốc Mĩ và tay sai. 
Công cuộc cải tạo quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc có ý nghĩa rất to lớn. Nó góp phần xóa bỏ về cơ bản chế độ người bóc lột người, góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển, đặc biệt trong chiến tranh, hợp tác xã sản xuất đã đảm bảo những điều kiện vật chất, tư tưởng chính trị cho bộ phận tham gia chiến đấu và phục vụ chiến đấu. 
Tuy nhiên, trong cải tạo, chúng ta đã mắc một số sai lầm. Đó là đồng nhất cải tạo với xóa bỏ tư hữu và các thành phần kinh tế cá thể. Nguyên nhân gây ra tình trạng này là do không nắm vững các quy luật kinh tế của thời kỳ quá độ, thể hiện tư tưởng chủ quan, nóng vội. Đồng thời, thực hiên sai các nguyên tắc xây dựng hợp tác xã tự nguyện, công bằng, dân chủ, cùng có lợi, do đó chưa phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của xã viên trong sản xuất. Những hạn chế và sai lầm này đã được Đảng và Chính phủ khắc phục. 
Trong công cuộc đổi mới hiện nay, quan niệm về cải tạo không phải là xóa bỏ mà là sử dụng có hiệu quả để tồn tại lâu dài tất cả các thành phần kinh tế. Không phân biệt hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất, có tác dụng thúc đẩy sản xuất phát triển. Đồng thời, hết sức khuyến khích các thành phần kinh tế và các cơ sở sản xuất,mọi người lao động, sản xuất nhiều hàng hóa, nhiều của cải cho xã hội. Và cùng với nhiệm vụ cải tạo là nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hóa. 
Câu 3: Chiến dịch chủ động tiến công lớn đầu tiên của bộ đội chủ lực ta trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 – 1954) là chiến dịch nào? Tóm tắt hoàn cảnh lịch sử, chủ trương của ta và ý nghĩa chiến dịch đó. (3 điểm)
Chiến dịch chủ động tiến công lớn đầu tiên của bộ đội chủ lực ta trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 – 1954) là chiến dịch Biên giới thu – đông năm 1950.
*  Hoàn cảnh lịch sử mới của cuộc kháng chiến
Từ sau chiến thắng Việt Bắc thu – đông 1947, cuộc kháng chiến của nhân dân ta đã có thêm những thuận lợi, song cũng phải đối mặt với nhiều thách thức mới. 
Sự phát triển của phong trào cách mạng thế giới có ảnh hưởng quan trọng đối với chúng ta. 
Ngày 1/10/1949, cách mạng Trung Quốc thành công, nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa được thành lập tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc kháng chiến của ta quan hệ trực tiếp với các nước xã hội chủ nghĩa. Ngày 14/1/1950, chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố sẵn sàng đặt quan hệ ngoại giao với các nước. Từ tháng 1/1950, các nước xã hội chủ nghĩa lần lượt công nhận và đặt quan hệ ngoại giao với ta, nâng cao địa vị, uy tín của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa trên trường quốc tế. Ngày 18/1/1950, chính phủ Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, ngày 30/1/1950 Chính phủ Liên Xô, và trong vòng một tháng sau, các nước trong phe xã hội chủ nghĩa lần lượt công nhận và đặt quan hệ ngoại giao với nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. 
Ở Đông Dương, cách mạng Lào, Campuchia có bước phát triển mới. Phong trào đấu tranh của nhân dân Pháp và các thuộc địa dâng cao phản đối chiến tranh xâm lược với những hình thức phong phú: lấy chữ kí, đưa đơn kiến nghị đòi hòa bình, ủng hộ cuộc kháng chiến ở Việt Nam. Trong khi đó, Pháp lại đang gặp nhiều khó khăn về kinh tế, tài chính. 
Về phía thực dân Pháp, chúng có những âm mưu mới đối với cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Ngày 13/5/1949, với sự đồng ý của Mĩ, Chính phủ Pháp đề ra kế hoạch Rơve. Với kế hoạch này, Mĩ từng bước can thiệp sâu và “dính líu” trực tiếp vào cuộc chiến tranh ở Đông Dương. 
Thực hiện kế hoạch Rơve, từ tháng 6/1949, Pháp khóa chặt biên giới Việt Trung bằng cách tăng cường hệ thống phòng ngự trên đường số 4 (Cao Bằng – Lạng Sơn). Thiết lập “hành lang Đông – Tây” (từ Hải Phòng – Hà Nội – Hòa Bình – Sơn La) nhằm cắt đứt sự liên lạc giữa căn cứ địa Việt Bắc với đồng bằng liên khu III và IV. Với hai hệ thống phòng ngự ấy, Pháp chuẩn bị một kế hoạch quy mô lớn, nuôi dưỡng âm mưu tấn công lên Việt Bắc lần hai để nhanh chóng kết thúc cuộc chiến tranh. 
Về phía ta, sau thắng lợi ở Việt Bắc, qua thời kỳ phát triển cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện, bộ đội chủ lực ta đã trưởng thành, quân dân ta phấn khởi, tin tưởng hơn nữa vào Đảng, Chính phủ, Bác Hồ. Đến giữa năm 1950, thế và lực của ta thay đổi, chúng ta đủ sức chiến đấu với những âm mưu của thực dân Pháp đề ra. 
* Chủ trương của ta
Việc Pháp thực hiện kế hoạch Rơve đã làm cho vùng tự do của ta bị thu hẹp, căn cứ địa Việt Bắc bị bao vây… Để phá tan âm mưu bao vây cô lập căn cứ địa Việt Bắc của Pháp và đưa cuộc kháng chiến lên bước mới, tháng 6/1950, Đảng và Chính phủ quyết định mở chiến dịch Biên giới, chọn hướng tiến công chính là đường sô 4 từ Lạng Sơn lên Cao Bằng nhằm ba mục đích: tiêu diệt bộ phận quan trọng sinh lực địch; khai thông biên giới Việt – Trung để mở rộng đường liên lạc quốc tế của ta với các nước xã hội chủ nghĩa (Trung Quốc); mở rộng và củng cố căn cứ địa Việt Bắc, tạo đà thúc đẩy cuộc kháng chiến tiến lên. 
Chủ tịch Hồ Chí Minh ra mặt trận để cùng Bộ chỉ huy chiến dịch chỉ đạo và động viên bộ đội chiến đấu. 
* Ý nghĩa
Với chiến thắng Biên giới thu – đông 1950 có ý nghĩa lịch sử rất lớn đối với cách mạng Việt Nam trong thời điểm này. 
Đây là lần đầu ta chủ động mở một chiến dịch lớn tiến công địch, tiêu diệt nhiều sinh lực địch. Chiến dịch này tỏ rõ sự trưởng thành về nhiều mặt của quân đội ta: về chiến thuật, về chỉ đạo chiến tranh, về huy động nhân lực, vật lực cho một chiến dịch lớn. Điều này cho phép quân đội ta có thể mở nhiều chiến dịch lớn tiếp theo. 
Chiến dịch Biên giới 1950 làm cho hình thái chiến tranh thay đổi trên chiến trường chính Bắc Bộ. Ta chuyển từ chiến tranh du kích sang chiến tranh chính quy trên một quy mô tương đối lớn. Địch từ thế chủ động quay sang phòng ngự bị động. Lực lượng so sánh giữa ta và địch trên chiến trường chính đã thay đổi do sự cố gắng của ta và sự chi viện của quốc tế. Ta chuyển sang thế chủ động ở chiến trường chính và ở miền núi, còn ở chiến trường đồng bằng bà các chiến trường phối hợp ta vẫn chưa đủ sức kiềm chế được địch. 
Với chiến thắng Biên giới, con đường liên lạc của ta với các nước xã hội chủ nghĩa được khai thông, quân đội ta đã giành được thế chủ động trên chiến trường chính Bắc Bộ, mở ra bước phát triển mới của cuộc kháng chiến. 
PHẦN II
Câu 4: Nước Cộng hòa Dân chủ Triều Tiên và Đại Hàn Dân Quốc đã ra đời trong bối cảnh nào? Quan hệ giữa hai miền Nam, Bắc trên bán đảo Triều Tiên có những chuyển biến gì từ những năm 70 đến năm 2000?
* Nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên và Đại hàn Dân Quốc ra đời trong bối cảnh:
Sau khi chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, khu vực Đông Bắc Á có sự biến đổi to lớn, với sự ra đời của hai nhà nước trên bán đảo Triều Tiên và sự thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Các quốc gia trong khu vực đã đạt được những thành tựu quan trọng trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. 
Sau khi thoát khỏi ách thống trị của quân phiệt Nhật Bản, trong bối cảnh của Chiến tranh lạnh, bán đảo Triều Tiên đã bị chia cắt thành hai miền theo vĩ tuyến 38. Tháng 8/1948, ở phía Nam bán đảo Triều Tiên, Nhà nước Đại Hàn Dân quốc (Hàn Quốc) được thành lập. Tháng 9/1948, ở phía Bắc, Nhà nước Cộng hòa dân chủ Nhân dân Triều Tiên ra đời. 
Tháng 6/1950 cuộc chiến tranh giữa hài miền bùng nổ, kéo dài đến tháng 7/1953. Hai bên kí hiệp định đình chiến tại Bàn Môn Điếm, vĩ tuyến 38 vẫn được coi là ranh giới giữa hai nhà nước trên bán đảo. 
Từ năm 2000, hai nhà lãnh đạo cao nhất của hai miền đã kí hiệp định hòa hợp giữa hai nhà nước, mở ra một bước mới trong tiến trình hòa hợp, thống nhất bán đảo Triều Tiên. 
* Quan hệ giữa hai miền Nam – Bắc Triều Tiên từ thập niên 50 đến năm 2000
Sau chiến tranh Triều Tiên, vào những thập kỷ 50, 60, Nam – Bắc bán đảo Triều Tiên ở trong tình trạng đối đầu. Từ những năm 70 trở đi, quan hệ hai miền có sự thay đổi, chuyển sang đối ngoại. 
Năm 1990, vấn đề đối ngoại Nam – Bắc có bước đột phá mới: sau nhiều cuộc gặp gỡ, các nhà lãnh đạo cấp cao của hai bên đã đi đến nhất trí: “xóa bỏ tình trạng đối lập về chính trị và quân sự giữa hai miền Nam – Bắc, tiến hành giao lưu và hợp tác nhiều mặt”. 
Ngày 13/6/2000, hai nhà lãnh đạo cao nhất là Tổng thống Kim Tê Chung ( Hàn Quốc) và chủ tịch Kim Jong II ( CHDCND Triều Tiên) đã gặp gỡ ở Bình Nhưỡng và kí hiệp định hòa hợp giữa hai quốc gia, mở ra một trang mới trong quan hệ hai miền. Tuy nhiên, quá trình hòa hợp và thống nhât bán đảo Triều Tiên còn khó khăn và phức tạp. 




Bài 2.
ĐỀ THI THỬ ĐẠI HỌC SỐ 4
Phần I: Phần chung cho tất cả thí sinh
Câu 1: Giai đoạn mới của cách mạng Việt Nam sau khi kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mĩ, cứu nước thể hiện như thế nào? (1,5 điểm)
Câu 2: Phân tích nguyên nhân thắng lợi và ý nghĩa lịch sử của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 – 1954)?(2,5 điểm)
Câu 3: Trong thời kì 1954 – 1975, thắng lợi quân sự nào của quân và dân miền Nam đã buộc đế quốc Mĩ phải tuyên bố “phi Mĩ hóa” chiến tranh xâm lược Việt Nam? Tóm tắt diễn biến và kết quả của thắng lợi đó. (3 điểm)
PHẦN II: LỊCH SỬ THẾ GIỚI
Câu 4: Khu vực Đông Bắc Á từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai có sự biến đổi như thế nào? 
 
ĐÁP ÁN
Phần I: Phần chung cho tất cả thí sinh
Câu 1: Giai đoạn mới của cách mạng Việt Nam sau khi kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mĩ, cứu nước thể hiện như thế nào? (1,5 điểm)
Sau thắng lợi của cuộc kháng chống Mĩ cứu nước và hoàn thành thống nhất đất nước về mặt nhà nước, nước ta chuyển sang giai đoạn đất nước độc lập , thống nhất, đi lên chủ nghĩa xã hội. 
Độc ập và thống nhất là điều kiện tiên quyết để đất nước tiến lên chut nghĩa xã hội. Tiến lên chủ nghĩa xã hội sẽ đảm bảo cho nền độc lập và thống nhất đất nước thêm bền vững.
Độc lập và thống nhất đất nước không những gắn với nhau mà còn gắn với chủ nghĩa xã hội. Đó là con đường phát triển hợp quy luật của cách mạng nước ta. Quy luật đó là : “Trong thời đại ngày nay, khi độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội không tách rời nhau và ở nước ta, khi giai cấp công nhân giữ vai trò lãnh đạo cách mạng thì thắng lợi của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân cũng là sự bắt đầu của cách mạng xã hội chủ nghĩa”. 
Câu 2: Phân tích nguyên nhân thắng lợi và ý nghĩa lịch sử của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 – 1954)?(2,5 điểm)
* Nguyên nhân thắng lợi
Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp là nhờ có sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, đứng đầu là chủ tịch Hồ Chí Minh, với đường lối kháng chiến đúng đắn, sáng tạo; toàn dân, toàn quân ta đoàn kết một lòng, dũng cảm trong chiến đấu, cần cù trong lao động sản xuất. 
Truyền thống yêu nước của nhân dân ta, chủ nghĩa anh hùng cách mạng của nhân dân ta được phát huy mạnh mẽ, góp phần vào chiến thắng vang dội của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. 
Cuộc kháng chiến của nhân dân ta chống thực dân Pháp xâm lược giành được thắng lợi cũng là nhờ có hệ thống chính quyền dân chủ nhân dân trong cả nước, mặt trận dân tộc thống nhất được củng cố và mở rộng, lực lượng vũ trang ba thứ quân sớm được xây dựng và không ngừng lớn mạnh. Hậu phương được củng cố và phát triển vững chắc trên tất cả mọi mặt, góp phần quan trọng vào cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc. 
Cuộc kháng chiến của nhân dân ta có sự liên minh đoàn kết với cuộc kháng chiến của nhân dân hai nước bạn Lào và Campuchia cùng chống một kẻ thù chung là đế quốc thực dân Pháp xâm lược. 
Một nguyên nhân quan trọng nữa, trong cuộc kháng chiến, có sự đồng tình ủng hộ của phong trào cách mạng trong đó có Trung Quốc, Liên xô và các lực lượng dân chủ hòa bình, trên thế giới, của nhân dân Pháp tiến bộ là loài người tiến bộ. 
* Ý nghĩa lịch sử
Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, với đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ là một dấu son chói lọi trong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, đã phát triển thành quả của cách mạng Tháng Tám năm 1945, là niềm tự hào chân chính của dân tộc Việt Nam. Cuộc kháng chiến kết thúc thắng lợi, có ý nghĩa lịch sử quan trọng đối với nước ta và có ý nghĩa đối với phong trào cách mạng giải phóng dân tộc trên thế giới. 
Đối với nước ta, cuộc kháng chiến của nhân dân ta thắng lợi đã buộc Pháp phải công nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của ba nước Đông Dương, âm mưu kéo dài và mở rộng chiến tranh Đông Dương của Pháp – Mĩ thất bại hoàn toàn. Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược đã bảo vệ và phát triển những thành quả của cách mạng tháng Tám năm 1945, chấm dứt ách thống trị của thực dân Pháp trong gần một thế kỷ trên đất nước ta. Đồng thời, Miền Bắc được giải phóng hoàn toàn, chuyển sang giai đoạn cách mạng xã hội chủ nghĩa, tạo điều kiện hoàn thành triệt để cách mạng ruộng đất, xóa bỏ vĩnh viễn chế độ bóc lột của giai cấp địa chủ, phong kiến. Cùng với đó là tạo cơ sở để nhân dân ta giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ Quốc. 
Đối với thế giới, tiếp theo cách mạng tháng Tam 1945, cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi là một đòn giáng mạnh mẽ vào hệ thống thực dân, mở đầu cho sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân cũ. Đồng thời đập tan âm mưu của đế quốc Mĩ muốn thay chân Pháp, nô dịch nhân dân các nước trên bán đảo Đông Dương, ngăn chặn sự phát triển của phong trào cách mạng ở Đông Nam Á. 
Thắng lợi đó đã cổ vũ mạnh mẽ phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới, trước hết là châu Á, châu Phi và Mĩ Latinh, góp phần thu hẹp trận địa của chủ nghĩa đế quốc. 
Thắng lợi của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống Pháp làm sáng tỏ một chân lí: Trong điều kiện thế giới ngày nay, một dân tộc đất không rộng, người không đông, nếu quyết tâm chiến đấu vì độc lập, tự do, có đường lối chính trị, quân sự đúng đắn, được sự ủng hộ của quốc tế, thì hoàn toàn có khả năng đánh bại mọi thế lực đế quốc hung bạo. 
Tuy vậy, miền Nam nước ta chưa được giải phóng, nhân dân ta còn tiếp tục  sự nghiệp đấu tranh gian khổ chống đế quốc Mĩ nhằm hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, thống nhất đất nước. 
* Bài học kinh nghiệm
Cuộc kháng chiến 9 năm chống thực dân Pháp xâm lược thắng lợi đã cho Đảng và nhân dân ta rất nhiều những bài học kinh nghiệm giá trị, để xuyên suốt trong quá trình đấu tranh, chúng ta đã vận dụng và phát huy để giành được những thắng lợi triệt để nhất trong cuộc kháng chiến chống Mĩ xâm lược.
Đó là bài học kết hợp đúng đắn nhiệm vụ chống đế quốc và phong kiến. Nhiệm vụ chống đế quốc được đặt lên hàng đầu, nhiệm vụ chống phong kiến phải được nâng dần lên từng bước cho phù hợp với yêu cầu của nhiệm vụ chống đế quốc. Chúng ta cũng đã vận dụng đúng đắn và sáng tạo đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ, tự lực cánh sinh vào từng thời điểm cụ thể của cuộc kháng chiến.
  Một điều quan trọng nữa trong chiến lược cách mạng của ta là vừa kháng chiến vừa kiến quốc, xây dựng một chế độ xã hội mới. Chú trọng xây dựng hậu phương vững mạnh để đẩy mạnh kháng chiến và chuẩn bị cho sự nghiệp cách mạng lâu dài.
Trong cuộc kháng chiến này, Đảng và Chính phủ đã chỉ đạo cho quân và dân ta kết hợp khéo léo các hình thức tác chiến. Kết hợp chặt chẽ chiến tranh chính quy với chiến tranh du kích và các hoạt động trong vùng địch tạm chiếm. Đồng thời, không ngững xây dựng Đảng và đội ngũ cán bộ, đảm bảo đủ năng lực, bản lĩnh lãnh đạo kháng chiến. 
Câu 3: Trong thời kì 1954 – 1975, thắng lợi quân sự nào của quân và dân miền Nam đã buộc đế quốc Mĩ phải tuyên bố “phi Mĩ hóa” chiến tranh xâm lược Việt Nam? Tóm tắt diễn biến và kết quả của thắng lợi đó. (3 điểm)
Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy tết Mậu Thân 1968 là thắng lợi quân sự của quân và dân miền Nam buộc Mĩ phải tuyên bố “phi Mĩ hóa chiến tranh xâm lược Việt Nam, tức là thừa nhận sự thất bại của “Chiến tranh cục bộ”, chấm dứt không điều kiện chiến tranh phá hoại miền Bắc, chấp nhận đến đàm phán ở Pari (5/8/1968) để bàn về chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam. 
* Diễn biến và kết quả
Bước vào mùa xuân 1968, xuất phát từ nhận định so sánh lực lượng đã thay đổi có lợi cho ta sau hai mùa khô, đồng thời lợi dụng mâu thuẫn ở Mĩ trong những năm bầu cử tổng thống( 1968), ta chủ trương mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy trên toàn miền Nam, trọng tâm là các đô thị, nhằm tiêu diệt một bộ phận lực lượng quân Mĩ, đồng minh, đánh đòn mạnh vào chính quyền và quân đội Sài Gòn, giành chính quyền về tay nhân dân, buộc Mĩ phải đàm phán, rút quân về nước. 
Cuộc tổng tiến công và nổi dậy được mở đầu bằng cuộc tập kích chiến lược của quân chủ lực vào hầu khắp các đô thị miền Nam trong đêm 30 rạng sáng 31/1/1968 ( tết Mậu Thân). Cuộc tổng tiến công và nổi dậy diễn ra qua ba đợt: từ đêm 30/1 đến 25/2; đợt 2: tháng 5 và 6; đợt 3: tháng 8 và 9/1968. 
Quân ta đồng loạt tiến công và nổi dậy ở 37 trong tổng số 44 tỉnh, 4 trong 6 đô thị lớn, 64 trong số 242 quận lị, ở hầu khắp các “ấp chiến lược”, các vùng nông thôn. 
Tại Sài Gòn, Quân giải phóng tiến công các vị trí đầu não của địch như Tòa đại sứ Mĩ, Dinh Độc lập, Bộ Tổng tham mưu quân đội Sài Gòn, Bộ Tư lệnh Biệt khu thủ đô, Tổng nha Cảnh sát, Đài phát thanh, sân bay Tân Sơn Nhất. Trong đợt 1, ta loại khỏi vòng chiến đấu 147.00 tên địch, trong đó có 43.000 lính Mĩ, phá hủy một khối lượng lớn vật chất và phương tiện chiến tranh của chúng. 
Từ trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy, có thêm nhiều lực lượng mới chống Mĩ, chống chính quyền Sài Gòn, mặt trận đoàn kết dân tộc chống Mĩ, cứu nước được mở rộng. Tổ chức Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình ở Sài Gòn, Huế và toàn miền Nam, đại diện cho tầng lớp trí thức, tư sản dân tộc tiến bộ ở các thành thị được thành lập. 
Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân đã đánh đòn bất ngờ, làm cho địch choáng váng. Nhưng do lực lượng địch cong đông (hơn nửa triệu quân Mĩ và đồng minh, gần 1 triệu quân Sài Gòn), cơ sở ở thành thị mạnh, nên chúng đã nhanh chóng tổ chức lại lực lượng, phản công ta cả ở thành thị lẫn nông thôn. Vì vậy trong đợt 2 và 3, lực lượng của ta gặp không ít khó khăn và tổn thất. 
Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy còn có những  hạn chế đó là do ta “chủ quan trong việc đánh giá tình hình, đề ra yêu cầu chưa thật sát với tình hình thực tế lúc đó, nhất là sau đợt tiến công xuân Mậu Thân, ta không kịp thời kiểm điểm, rút kinh nghiệm để đánh giá lại tình hình và có chủ trương chuyển hướng kịp thời, ta chậm thấy cố gắng mới của địch và những khó khăn của ta lúc đó”. 
Mặc dù có những hạn chế và tổn thất, song ý nghĩa của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 vẫn hết sức to lớn. Giáng một đòn quyết định vào chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của Mĩ, gây cho chúng những tổn thất nặng nề về người, phương tiện chiến tranh.  Mở ra bước ngoặt của cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước
Phần II: Phần riêng
Câu 4: Khu vực Đông Bắc Á từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai có sự biến đổi như thế nào? (3 điểm)
Sau khi chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, khu vực Đông Bắc Á có sự biến đổi to lớn, với sự ra đời của hai nhà nước trên bán đảo Triều Tiên và sự thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Các quốc gia trong khu vực đã đạt được những thành tựu quan trọng trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. 
Đông Bắc Á là khu vực rộng lớn với tổng diện tích là 10,2 triệu km2, đông dân nhất thế giới (khoảng 1,47 tỷ người – 2000). Khu vực này có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú. Trước chiến tranh thế giới II, các nước Đông Bắc Á (trừ Nhật Bản) đều bị chủ nghĩa thực dân nô dịch. Từ sau 1945, tình hình khu vực có nhiều biến chuyển. 
Thắng lợi của cách mạng Trung Quốc thắng lợi đã dẫn tới sự ra đời của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (10/1949). Chính quyền Tưởng Giới Thạch phải rút chạy ra Đài Loan và tồn tại ở đó nhờ sự giúp đỡ của Mĩ. Hồng Công và Ma Cao vẫn là những vùng đất thuộc địa của Anh và Bồ Đào Nha, cho đến cuối những năm 90 của thế kỷ XX mới trở về chủ quyền của Trung Quốc. 
Sau khi thoát khỏi ách thống trị của quân phiệt Nhật Bản, trong bối cảnh của Chiến tranh lạnh, bán đảo Triều Tiên đã bị chia cắt thành hai miền theo vĩ tuyến 38. Tháng 8/1948, ở phía Nam bán đảo Triều Tiên, Nhà nước Đại Hàn Dân quốc (Hàn Quốc) được thành lập. Tháng 9/1948, ở phía Bắc, Nhà nước Cộng hòa dân chủ Nhân dân Triều Tiên ra đời. 
Tháng 6/1950 cuộc chiến tranh giữa hài miền bùng nổ, kéo dài đến tháng 7/1953. Hai bên kí hiệp định đình chiến tại Bàn Môn Điếm, vĩ tuyến 38 vẫn được coi là ranh giới giữa hai nhà nước trên bán đảo. 
Từ năm 2000, hai nhà lãnh đạo cao nhất của hai miền đã kí hiệp định hòa hợp giữa hai nhà nước, mở ra một bước mới trong tiến trình hòa hợp, thống nhất bán đảo Triều Tiên. 
Sauk hi thành lập, các nước và vùng lãnh thổ ở ĐÔng Bắc Á bắt tay vào xây dựng và phát triển kinh tế. Trong nửa sau thế kỷ XX, khu vực Đông Bắc Á đã đạt được sự tăng trưởng nhanh chóng về kinh tế, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt. Trong bốn “con rồng” kinh tế châu Âu thì Đông Bắc Á có ba (Hàn Quốc, Hồng Công, Đài Loan), còn Nhật Bản trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới. Trong những năm 80 – 90 của thế kỷ XX và những năm đầu của thế kỷ XXI, nền kinh tế Trung Quốc có tốc độ tăng trưởng nhanh và cao nhất thế giới. 

Bài 3.
   
 I. PHẦN CHUNG
       Câu 1: Tại sao Đảng và Chính phủ ta phát động toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp ngày 19/12/1946? Nêu ngắn gọn đường lối kháng chiến do Đảng ta đề ra trong những năm 1946 – 1947? (2 điểm)
* Đảng và Chính phủ ta phát động toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp 19/12/1946 vì:
Pháp đã có dã tâm quay trở lại xâm lược VN và Đông Dương ngay khi nước ta vừa tuyên bố độc lập. Đêm 22 rạng ngày 23/9/1945, Pháp được sự hỗ trợ của quân Anh đã nổ súng tái chiếm Nam Bộ. Sau đó chúng đánh rộng ra Nam Bộ. Song âm mưu của chúng không dừng lại ở đó, chúng muốn đưa quân ra Bắc chiếm toàn bộ VN và Đông Dương. Thấy được dã tâm của Pháp, Đảng, Chính phủ ta đã kiên trì giải quyết mối quan hệ Việt – Pháp bằng con đường hòa bình, thương lượng, thể hiện qua việc kí với Pháp hiệp định sơ bộ 6/3/1946 và tạm ước 14/9/1946 tranh thủ thời gian hòa bình củng cố và phát triển lực lượng chuẩn bị cho cuộc kháng chiến chống Pháp. 
Ngay sau hiệp định 6/3/1946 Pháp đã thể hiện sự bội ước, mở các cuộc tiến công ta ở Nam Bộ và Nam Trung Bộ. Ở Bắc Bộ, hạ tuần tháng 11/1946 quân Pháp khiêu khích, tiến công ta ở Hải Phòng và Lạng Sơn. Ngày 20/11/1946 Pháp giành quyền thu thuế quan của ta ở cảng Hải Phòng. Ngày 24/11 cho bắn súng vào các khu phố ở Hải Phòng. Tại Hà Nội, quân Pháp bắn súng, ném lựu đạn vào nhiều nơi. Ngày 17/12/1946 chúng đốt nhà Thông tin ở phố Tràng Tiền, chiếm đóng cơ quan bộ tài chính, gây ra vụ tàn sát đẫm máu ở phố hàng Bún, phố Yên Ninh... Ngày 18/12/1946, Pháp gửi tối hậu thư đòi chính phủ ta phải giải tán lực lượng tự vệ chiến đấu, để cho quân Pháp làm nhiệm vụ giữ gìn trật tự ở Hà Nội. Nếu các yêu cầu đó không được chấp nhận thì chậm nhất ngày 20/2/ chúng sẽ hành động. 
Trước hành động xâm lược của thực dân Pháp, nhân dân ta chỉ có một con đường là toàn dân đứng lên đánh Pháp giữ vững nền độc lập dân tộc. Tình thế khẩn cấp đòi hỏi Đảng và Chính phủ ta phải có quyết định kịp thời. Ngày 12/12/1946, Ban thường vụ TW Đảng đã ra chỉ thị Toàn dân kháng chiến. Đáp lại tối hậu thư của Pháp, hội nghị Ban thường vụ TW Đảng Cộng Sản Đông Dương họp mở rộng vào ngày 18, 19/12/1946 tại Vạn Phúc – Hà Động do chủ tịch HCM chủ trì đã quyết định phát động toàn quốc kháng chiến và đề ra những chủ trương, đường lối kháng chiến của ta. Khoảng 20 giờ ngày 19/12/1946, công nhân nhà máy điện Yên Phụ phá máy, cả thành phố mất điện là tín hiệu tiến công. Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của chủ tịch HCM lan đi khắp nước. Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến là tiếng gọi của non sông, đất nước, là mệnh lệnh cách mạng tiến công soi đường và chỉ lối cho mọi người VN đứng dậy cứu nước. Ta đã chủ động nổ súng tiến hành cuộc kháng chiến, không chờ cuối thời hạn của tối hậu thư. Đây là cuộc chiến tranh cách mạng một cách chính nghĩa chống lại cuộc chiến tranh phi nghĩa của Pháp. Cuộc kháng chiến này nhằm mục đích giành độc lập và thống nhất toàn quốc. Trong cuộc kháng chiến này dân tộc VN vừa phải tranh đấu để tự cứu mình, đống thời chiến đấu vì nền hòa bình thế giới, vì độc lập - tự do -  dân chủ - hòa bình. 
* Đường lối kháng chiến do Đảng ta đề ra 1946 – 1947:
Chỉ thị Toàn dân kháng chiến (22/12/1946), Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến (19/12/1946) của chủ tịch HCM và tác phẩm Kháng chiến nhất định thắng lợi (1947) của đồng chí Trường Chinh là những văn kiện lịch sử quan trọng về đường lối kháng chiến, nêu rõ tính chất, mục đích, nội dung và phương châm của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Ngày 22/12/1946 Ban thường vụ TW Đảng ra chỉ thị “ Toàn dân kháng chiến” nêu khái quát nội dung cơ bản về đường lối kháng chiến trong đó nêu rõ mục đích, tính chất, chính sách và cách đánh của ta. Năm 1947, Tổng Bí thư Trường Chinh viết tác phẩm “Kháng chiến nhất định thắng lợi” giải thích rõ đường lối kháng chiến của ta. Đó là đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài và tự lực cánh sinh. Từ ba văn kiện đó đã toát lên đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kì, tự lực cánh sinh và tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế. 
Kháng chiến toàn dân, tức là tất cả mọi người dân trên đất nước đều tham gia, lấy lực ượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt. Kháng chiến toàn dân thì Đảng ta phải giáo dục tổ chức, động viên toàn dân tham gia kháng chiến, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân. Đường lối kháng chiến toàn dân sử dụng bài học cha ông ta từ ngày xưa để lại. Trong lúc đất nước ta còn nghèo, lực lượng chính quy nhỏ bé, vũ khí thô sơ, ta cần phát huy sức mạnh toàn dân, dựa vào dân kháng chiến mới đánh được lâu dài, phát huy được lối đánh du kích.
Kháng chiến toàn diện tức là tiến hành kháng chiến trên tất cả mọi lĩnh vực: ngoại giao, chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục. Chúng ta tiến hành kháng chiến toàn diện mới phát huy được lực lượng toàn dân. Pháp đánh ta trên tất cả mọi mặt nên ta cũng đánh lại chúng trên tất cả các mặt khác. 
Kháng chiến lâu dài, đây là một chủ trương sáng suốt của Đảng ta dựa trên sự vận dụng chủ nghĩa Mác – Lê nin vào hoàn cảnh cụ thể của nước ta, phát huy truyền thống cha ông, lấy yếu đánh mạnh, chính nghĩa chiến thắng hung tàn. Bên cạnh đó, Pháp đánh ta với âm mưu “đánh nhanh thắng nhanh”, ta phải phá âm mưu đó. Tương quan lực lượng giữa ta và địch chênh lệch, ta thua về vật chất nhưng mạnh về tinh thần, như   vậy thời gian lâu dài sẽ giúp ta có thời gian củng cố lực lượng vũ trang, trang bị về kinh tế, vũ khí, xây dựng hậu phương vững chắc để kháng chiến chống Pháp. 
Kháng chiến tự lực cánh sinh, lúc này chúng ta chưa có sự liên hệ với một nước nào trên thế giới về vật chất – tinh thần nên chưa nhận được sự giúp đỡ của một nước nào. Chính vì vậy, chúng ta phải chủ động trên tất cả các mặt, dựa vào nội lực của đất nước để chiến đấu. Đồng thời ta cũng tích cực kêu gọi sự đồng tình, ủng hộ của quốc tế. 
Đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài và tự lực cánh sinh chính là sức mạnh, động lực, là mục đích của nhân dân ta trong suốt 9 năm trường kỳ kháng chiến, là một trong những nhân tố quan trọng quyết định cho thắng lợi của cách mạng. 
Câu 2: Chiến dịch chủ động tiến công lớn đầu tiên của bộ đội chủ lực ta trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 – 1954) là chiến dịch nào? Tóm tắt hoàn cảnh lịch sử, chủ trương của ta và ý nghĩa chiến dịch đó. (3 điểm)
Chiến dịch chủ động tiến công lớn đầu tiên của bộ đội chủ lực ta trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 – 1954) là chiến dịch Biên giới thu – đông năm 1950.
*  Hoàn cảnh lịch sử mới của cuộc kháng chiến
Từ sau chiến thắng Việt Bắc thu – đông 1947, cuộc kháng chiến của nhân dân ta đã có thêm những thuận lợi, song cũng phải đối mặt với nhiều thách thức mới. 
Sự phát triển của phong trào cách mạng thế giới có ảnh hưởng quan trọng đối với chúng ta. 
Ngày 1/10/1949, cách mạng Trung Quốc thành công, nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa được thành lập tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc kháng chiến của ta quan hệ trực tiếp với các nước xã hội chủ nghĩa. Ngày 14/1/1950, chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố sẵn sàng đặt quan hệ ngoại giao với các nước. Từ tháng 1/1950, các nước xã hội chủ nghĩa lần lượt công nhận và đặt quan hệ ngoại giao với ta, nâng cao địa vị, uy tín của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa trên trường quốc tế. Ngày 18/1/1950, chính phủ Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, ngày 30/1/1950 Chính phủ Liên Xô, và trong vòng một tháng sau, các nước trong phe xã hội chủ nghĩa lần lượt công nhận và đặt quan hệ ngoại giao với nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. 
Ở Đông Dương, cách mạng Lào, Campuchia có bước phát triển mới. Phong trào đấu tranh của nhân dân Pháp và các thuộc địa dâng cao phản đối chiến tranh xâm lược với những hình thức phong phú: lấy chữ kí, đưa đơn kiến nghị đòi hòa bình, ủng hộ cuộc kháng chiến ở Việt Nam. Trong khi đó, Pháp lại đang gặp nhiều khó khăn về kinh tế, tài chính. 
Về phía thực dân Pháp, chúng có những âm mưu mới đối với cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Ngày 13/5/1949, với sự đồng ý của Mĩ, Chính phủ Pháp đề ra kế hoạch Rơve. Với kế hoạch này, Mĩ từng bước can thiệp sâu và “dính líu” trực tiếp vào cuộc chiến tranh ở Đông Dương. 
Thực hiện kế hoạch Rơve, từ tháng 6/1949, Pháp khóa chặt biên giới Việt Trung bằng cách tăng cường hệ thống phòng ngự trên đường số 4 (Cao Bằng – Lạng Sơn). Thiết lập “hành lang Đông – Tây” (từ Hải Phòng – Hà Nội – Hòa Bình – Sơn La) nhằm cắt đứt sự liên lạc giữa căn cứ địa Việt Bắc với đồng bằng liên khu III và IV. Với hai hệ thống phòng ngự ấy, Pháp chuẩn bị một kế hoạch quy mô lớn, nuôi dưỡng âm mưu tấn công lên Việt Bắc lần hai để nhanh chóng kết thúc cuộc chiến tranh. 
Về phía ta, sau thắng lợi ở Việt Bắc, qua thời kỳ phát triển cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện, bộ đội chủ lực ta đã trưởng thành, quân dân ta phấn khởi, tin tưởng hơn nữa vào Đảng, Chính phủ, Bác Hồ. Đến giữa năm 1950, thế và lực của ta thay đổi, chúng ta đủ sức chiến đấu với những âm mưu của thực dân Pháp đề ra. 
* Chủ trương của ta
Việc Pháp thực hiện kế hoạch Rơve đã làm cho vùng tự do của ta bị thu hẹp, căn cứ địa Việt Bắc bị bao vây… Để phá tan âm mưu bao vây cô lập căn cứ địa Việt Bắc của Pháp và đưa cuộc kháng chiến lên bước mới, tháng 6/1950, Đảng và Chính phủ quyết định mở chiến dịch Biên giới, chọn hướng tiến công chính là đường sô 4 từ Lạng Sơn lên Cao Bằng nhằm ba mục đích: tiêu diệt bộ phận quan trọng sinh lực địch; khai thông biên giới Việt – Trung để mở rộng đường liên lạc quốc tế của ta với các nước xã hội chủ nghĩa (Trung Quốc); mở rộng và củng cố căn cứ địa Việt Bắc, tạo đà thúc đẩy cuộc kháng chiến tiến lên. 
Chủ tịch Hồ Chí Minh ra mặt trận để cùng Bộ chỉ huy chiến dịch chỉ đạo và động viên bộ đội chiến đấu. 
* Ý nghĩa
Với chiến thắng Biên giới thu – đông 1950 có ý nghĩa lịch sử rất lớn đối với cách mạng Việt Nam trong thời điểm này. 
Đây là lần đầu ta chủ động mở một chiến dịch lớn tiến công địch, tiêu diệt nhiều sinh lực địch. Chiến dịch này tỏ rõ sự trưởng thành về nhiều mặt của quân đội ta: về chiến thuật, về chỉ đạo chiến tranh, về huy động nhân lực, vật lực cho một chiến dịch lớn. Điều này cho phép quân đội ta có thể mở nhiều chiến dịch lớn tiếp theo. 
Chiến dịch Biên giới 1950 làm cho hình thái chiến tranh thay đổi trên chiến trường chính Bắc Bộ. Ta chuyển từ chiến tranh du kích sang chiến tranh chính quy trên một quy mô tương đối lớn. Địch từ thế chủ động quay sang phòng ngự bị động. Lực lượng so sánh giữa ta và địch trên chiến trường chính đã thay đổi do sự cố gắng của ta và sự chi viện của quốc tế. Ta chuyển sang thế chủ động ở chiến trường chính và ở miền núi, còn ở chiến trường đồng bằng bà các chiến trường phối hợp ta vẫn chưa đủ sức kiềm chế được địch. 
Với chiến thắng Biên giới, con đường liên lạc của ta với các nước xã hội chủ nghĩa được khai thông, quân đội ta đã giành được thế chủ động trên chiến trường chính Bắc Bộ, mở ra bước phát triển mới của cuộc kháng chiến. 
Câu 3: Vì sao sau Hiệp định Giơnevơ năm 1954 về Đông Dương, Việt Nam bị chia cắt làm hai miền với hai chế độ chính trị khác nhau? (2 điểm)
Hiệp định Giơ ne vơ năm 1954 về Đông Dương được kí kết đã chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược 3 nước Việt Nam, Lào, Campuchia của thực dân Pháp, có sự giúp sức của đế quốc Mĩ. Nước ta tạm thời bị chia cắt làm 2 miền, lấy vĩ tuyến 17 lad ranh giới phân chia tạm thời và có tính chất đơn thuần.
Chúng ta đã thực hiện nghiêm chỉnh những điều khoản quy định về đình chiến, tập kết chuyển quân và chuyển giao khu vực. Nhưng phía Pháp chỉ thực hiện khi có những đấu tranh mạnh mẽ và kiên quyết của nhân dân ta. 
Thực hiện Hiệp định Giơ ne vơ, ngày 10/10/1954, quân ta tiến vào tiếp quản Hà Nội trong không khí tưng bừng của ngày hội giải phóng. 
Ngày 1/1/1955, Trưng ương Đảng, Chính phủ, và chủ tịch Hồ Chí Minh ra mắt nhân dân thủ đô. 
Ngày 16/5/1955 toán lính Pháp cuối cùng rút khỏi đảo Cát Bà( Hải Phòng). Miền Bắc nước ta hoàn toàn giải phóng. 
Ở miền Nam, giữa tháng 5/1956, Pháp rút quân khỏi miền Nam khi chưa thực hiện cuộc hiệp thương tổng tuyển cử thống nhất hai miền Nam – Bắc Việt Nam theo điều khoản của hiệp định Giơ ne vơ. Pháp trút bỏ trách nhiệm thi hành những điều khoản còn lại của Hiệp định cho Mĩ – Diệm, người kế tục chúng ở miền Nam. 
Ngay sau khi Hiệp định Giơ ne vơ 1954 được kí kết, Mĩ liền thay thế Pháp, dựng lên chính quyền Ngô Đình DIệm ở miền Nam, thực hiện âm mưu chia cắt Việt Nam, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mĩ ở Đông DƯơng và Đông Nam Á. 
Tháng 9/1954 Mĩ ngang nhiên đặt miền Nam Việt Nam dưới sự bảo trợ của khối SEATO và giúp đỡ Diệm thực hiện ý đồ của mình. 
Đưa được tay sai lên nắm chính quyền ở miền Nam Việt Nam, gạt hết quân Pháp và tay sai của chúng ra khỏi miền Nam, Mĩ đã thực hiện được bước đầu ý đồ độc chiếm miền Nam Việt Nam. 
Chính quyền Ngô Đình DIệm, với sự giúp đỡ và có sự chỉ đạo của Mĩ, ra sức phá hoại Hiệp định Giơ ne vơ. Diệm tuyên bố “không có hiệp thương tổng tuyển cử, chúng ta không kí hiệp định Giơ ne vơ, bất cứ phương diện nào chúng ta không bị ràng buộc vào hiệp định đó”. Bằng một loạt hành động trái với Hiệp định, như bày trò “trưng cầu dân ý” để phế truất Bảo Đại rồi suy tôn Ngô Đình Diệm làm tổng thống (10/1955), tổ chức bầu cử riêng rẽ, lập quốc hội lập hiến (5/1956), ban hành hiến pháp của cái gọi là “Việt Nam cộng hòa” (10/1956), Diệm đã trắng trợn từ chối và phá hoại việc thống nhất Việt Nam. 
Cùng với sự giúp đỡ dưới hình thức “viện trợ” quân sự, chính trị, kinh tế, miền Nam Việt Nam được xây dựng thành căn cứ quân sự, thành cơ sở kinh tế thực dân kiểu mới của Mĩ. Tất cả việc làm trên của Mĩ – Diệm không ngoài mục đích tách hẳn một phần lãnh thổ Việt Nam từ vĩ tuyến 17 trở vào để lập ra một quốc gia riêng biệt, thậm chí là một phần lãnh thổ của nowcs Mĩ. Tháng 5/1957, Ngô ĐÌnh Diệm tuyên bố tại Oasinhton “Biên giới Hoa Kỳ kéo dài đến vĩ tuyến 17”. 
Với tình hình trên, sự nghiệp cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trên cả nước chưa hoàn thành, nhân dân ta vừa phải hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục kinh tế ở miền Bắc, đưa miền Bắc lên chủ nghĩa xã hội, vừa phải tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, thực hiện hòa bình thống nhất nước nhà
        II. PHẦN RIÊNG
Câu 4: Nêu các chính sách đối ngoại của Trung Quốc trong các thời kỳ: 1949 – 1959, 1959 – 1978, 1978 – 2000. Rút ra nhận xét về chính sách đối ngoại của Trung Quốc. (3 điểm)
* Thời kỳ 1949 – 1959
Về đối ngoại, từ 1949 – 1959, TQ thi hành chính sách ngoại giao tích cực nhằm củng cố hòa bình và thúc đẩy sự phát triển của phong trào cách mạng thế giới. 
Ngày 14/2/1950 kí với Liên Xô hiệp ước Tương trợ hữu nghị hợp tác Xô – Trung. Phái quân chí nguyện sang giúp đỡ nhân dân Triều Tiên chống đế quốc Mĩ xâm lược trong cuộc chiến tranh Triều Tiên (1950 – 1953);  ủng hộ các nước Á, Phi, Mĩ La Tinh trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Giúp đỡ nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược và can thiệp của Mĩ. Là một trong 5 nước thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp quốc, Trung Quốc có tiếng nói quan trọng trên trường quốc tế, tham gia tích cực vào các hoạt động quốc tế. Nhờ đó, địa vị của TQ  đã được nâng cao rõ rệt. 
Ngày 18/1/1950, Trung Quốc thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam. 
* Thời kỳ 1959 – 1978
Về đối ngoại, Trung Quốc ủng hộ cuộc đấu tranh chống Mĩ xâm lược của nhân dân Việt nam cũng như cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân các nước Á, Phi và Mĩ La Tinh. Cũng trong thời kỳ này, đã xảy ra cuộc xung đột biên giới giữa Trung Quốc với Ấn Độ (1962), giữa Trung Quốc và Liên Xô (1969), gây tổn thất trong quan hệ với 3 nước Đông Dương.  Với các tranh chấp này, Trung Quốc dần mất địa vị trên trường quốc tế. Tháng 2/1972, Tổng thống Mĩ R.Ních xơn sang thăm Trung Quốc, mở đầu quan hệ mới theo hướng hòa dịu giữa hai nước. 
* Thời kỳ 1978 – 2000
Về đối ngoại, chính sách của Trung QUốc có nhiều thay đổi, vai trò và địa vị quốc tế của nước này ngày càng được nâng cao. Từ những năm 80 của thế kỷ XX, TQ đã bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Liên Xô, Mông Cổ, Inđônêxia… mở rộng hợp tác với nhiều nước trên thế giới. Sau sự kiện quân đội TQ mở rộng cuộc tiến công biên giới phía Bắc Việt nam (2/1979), quan hệ hai nước xấu đi. Tháng 11/1991, hai nước đã bình thường hóa quan hệ ngoại giao. 
TQ đã thu hồi chủ quyền đối với Hồng Công (9/1997) và Ma Cao (12/1999), Đài Loan và một bộ phận lãnh thổ của TQ, nhưng đến nay vẫn nằm ngoài sự kiểm soát của nước này. 
* Nhận xét: Khi TQ ổn định về kinh tế , chính trị thì thực hiện chính sách đối ngoại tiến bộ. Ngược lại, khi lâm vào tình trạng khủng hoảng thì thực hiện chính sách đối ngoai bất lợi cho các nước láng giềng và khu vực. 

Bài 4.
ĐỀ THI THỬ ĐẠI HỌC SỐ 3
I. PHẦN CHUNG CHO TẤT CẢ CÁC THÍ SINH  (7 ĐIỂM)
        Câu 1: Tại sao Đảng và Chính phủ ta phát động toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp ngày 19/12/1946? Nêu ngắn gọn đường lối kháng chiến do Đảng ta đề ra trong những năm 1946 – 1947? (2 điểm)
Câu 2: Chiến dịch chủ động tiến công lớn đầu tiên của bộ đội chủ lực ta trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 – 1954) là chiến dịch nào? Tóm tắt hoàn cảnh lịch sử, chủ trương của ta và ý nghĩa chiến dịch đó (3 điểm)
Câu 3: Vì sao sau Hiệp định Giơnevơ năm 1954 về Đông Dương, Việt Nam bị chia cắt làm hai miền với hai chế độ chính trị khác nhau? (2 điểm)
II. PHẦN RIÊNG (3 ĐIỂM)
Câu 4: Nêu các chính sách đối ngoại của Trung Quốc trong các thời kỳ: 1949 – 1959, 1959 – 1978, 1978 – 2000. Rút ra nhận xét về chính sách đối ngoại của Trung Quốc. (3 điểm)

Chat chit và chém gió
  • Hậu Duệ Mặt Trời: ghe vl 2/25/2017 10:02:55 AM
  • Lionel Messi: kiss cj nn 2/25/2017 10:03:01 AM
  • Lionel Messi: rolling_on_the_floor 2/25/2017 10:03:05 AM
  • Hậu Duệ Mặt Trời: sick 2/25/2017 10:03:14 AM
  • @_@ *Mèo* @_@: mai c nghỉ ở nhà chs laughing 2/25/2017 10:03:16 AM
  • @_@ *Mèo* @_@: ngủ ngon laughing 2/25/2017 10:03:21 AM
  • Lionel Messi: ok 2/25/2017 10:03:25 AM
  • Hậu Duệ Mặt Trời: straight_face 2/25/2017 10:03:26 AM
  • Hậu Duệ Mặt Trời: sen vch 2/25/2017 10:03:31 AM
  • Lionel Messi: rolling_on_the_floor 2/25/2017 10:03:38 AM
  • Hậu Duệ Mặt Trời: ...... 2/25/2017 10:05:49 AM
  • Hậu Duệ Mặt Trời: wave out day 2/25/2017 10:06:07 AM
  • Hậu Duệ Mặt Trời: tan nhau tiep nha 2/25/2017 10:06:13 AM
  • hoantruong1982: vì sao nước ta lại kí hiệp đinh sơ bộ và hiệp đinh tạm ước 3/8/2017 1:51:44 AM
  • Hậu Duệ Mặt Trời: ... 3/10/2017 9:26:22 AM
  • Hồng Thắm: hi mọi ng 3/31/2017 7:04:35 AM
  • Hồng Thắm: mình là thành viên mới 3/31/2017 7:04:59 AM
  • Thanh Nga: ko có ai 4/8/2017 2:27:05 AM
  • Thanh Nga: vắng tanh 4/8/2017 2:27:19 AM
  • Thanh Nga: rolling_on_the_floor 4/8/2017 2:27:24 AM
  • Hảianh12003: dkmskull 4/19/2017 5:43:55 AM
  • Hảianh12003: thành 4/19/2017 5:44:07 AM
  • Hảianh12003: Trên thế giới, Chủ nghĩa tư bản đã chuyển sang Chủ nghĩa đế quốc, những mâu thuẫn vốn có trong lòng chủ nghĩa tư bản lúc này đã trở nên sâu sắc. Chủ nghĩa đế quốc đã trở thành kẻ thù chung của nhân dân thế giới. Cách mạng tháng Mười Nga bùng nổ và thắng lợi, từ đó đã trở thành tấm gương cho các dân tộc đang đấu tranh giành độc lập dân tộc. Dưới ảnh hưởng của cách mạng tháng 10 Nga làm cho cuộc đấu tranh của nhân dân các nước thuộc địa với phong trào công nhân chính quốc ở các nước chính quốc trở nên gắn bó cùng chống lại kẻ thù chung. Phong trào cách mạng thế giới phát triển rất mạnh, học thuyết Mác-lênin đã được phổ biến rộng ở nhiều nước và có ảnh hưởng lớn đến phong trào cách mạng thế giới. Chính điều đó đã ảnh hưởng đến quá trình tìm đường cứu nước của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. 4/19/2017 5:45:23 AM
  • Hảianh12003: Nguyễn Ái Quốc ra đi tìm đường cứu nước trong hoàn cảnh lịch sử trên thế giới và trong nước có nhiều biến chuyển lớn. Trên thế giới, Chủ nghĩa tư bản đã chuyển sang Chủ nghĩa đế quốc, những mâu thuẫn vốn có trong lòng chủ nghĩa tư bản lúc này đã trở nên sâu sắc. Chủ nghĩa đế quốc đã trở thành kẻ thù chung của nhân dân thế giới. Cách mạng tháng Mười Nga bùng nổ và thắng lợi, từ đó đã trở thành tấm gương cho các dân tộc đang đấu tranh giành độc lập dân tộc. Dưới ảnh hưởng của cách mạng tháng 10 Nga làm cho cuộc đấu tranh của nhân dân các nước thuộc địa với phong trào công nhân chính quốc ở các nước chính quốc trở nên gắn bó cùng chống lại kẻ thù chung. Phong trào cách mạng thế giới phát triển rất mạnh, học thuyết Mác-lênin đã được phổ biến rộng ở nhiều nước và có ảnh hưởng lớn đến phong trào cách mạng thế giới. Chính điều đó đã ảnh hưởng đến quá trình tìm đường cứu nước của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Trong nước, chính hoàn cảnh từ quê hương và đất nước nơi Người sinh ra đã tác động mạnh đến việc ra đi tìm đường cứu nước của Người. Nguyễn Ái Quốc sinh ra và lớn lên ở Nghệ An, nơi có truyền thống yêu nước, nơi có nhiều nhà yêu nước bất khuất. Nghệ An cũng là một trong những nơi phát triển mạnh của các phong trào đấu tranh, tiêu biểu là phong trào Cần Vương. 4/19/2017 5:46:24 AM
  • Hảianh12003: * Hoàn cảnh lịch sử Nguyễn Ái Quốc ra đi tìm đường cứu nước trong hoàn cảnh lịch sử trên thế giới và trong nước có nhiều biến chuyển lớn. Trên thế giới, Chủ nghĩa tư bản đã chuyển sang Chủ nghĩa đế quốc, những mâu thuẫn vốn có trong lòng chủ nghĩa tư bản lúc này đã trở nên sâu sắc. Chủ nghĩa đế quốc đã trở thành kẻ thù chung của nhân dân thế giới. Cách mạng tháng Mười Nga bùng nổ và thắng lợi, từ đó đã trở thành tấm gương cho các dân tộc đang đấu tranh giành độc lập dân tộc. Dưới ảnh hưởng của cách mạng tháng 10 Nga làm cho cuộc đấu tranh của nhân dân các nước thuộc địa với phong trào công nhân chính quốc ở các nước chính quốc trở nên gắn bó cùng chống lại kẻ thù chung. Phong trào cách mạng thế giới phát triển rất mạnh, học thuyết Mác-lênin đã được phổ biến rộng ở nhiều nước và có ảnh hưởng lớn đến phong trào cách mạng thế giới. Chính điều đó đã ảnh hưởng đến quá trình tìm đường cứu nước của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Trong nước, chính hoàn cảnh từ quê hương và đất nước nơi Người sinh ra đã tác động mạnh đến việc ra đi tìm đường cứu nước của Người. Nguyễn Ái Quốc sinh ra và lớn lên ở Nghệ An, nơi có truyền thống yêu nước, nơi có nhiều nhà yêu nước bất khuất. Nghệ An cũng là một trong những nơi phát triển mạnh của các phong trào đấu tranh, tiêu biểu là phong trào Cần Vương. Người sinh ra và lớn lên trong hoàn cảnh đất nước bị thực dân Pháp xâm lược, thống trị nhân dân trở thành nô lệ. Các cuộc vùng dậy đấu tranh của nhân dân đều thất bại. Sự thất bại của các phong trào kháng Pháp chứng tỏ cách mạng nước ta đang lâm vào tình trạng khủng hoảng sâu sắc về đường lối cách mạng, thiếu hẳn 1 phương pháp khoa học và 1 giai cấp tiên tiến lãnh đạo cứu nước. Giải phóng dân tộc đã trở thành yêu cầu bức thiết nhất của toàn thể dân tộc Việt Nam. Trong hoàn cảnh đó đã thôi thúc nhiều người dân Việt Nam tìm con đường cứu nước mới, trong đó Nguyễn Ái Quốc là tiêu biểu. * Động cơ đi tìm đường cứu nước Nguyễn Ái Quốc sinh ngày 19/5/1890 ở Kim Liên-Nam Đàn-Nghệ An. Nguyễn Ái Quốc sinh ra trong 1 gia đình trí thức nghèo yêu nước gốc nông dân, anh chị em đều tham gia chống Pháp và bị bắt, bị tù đày. Từ nhỏ Người là 1 người thông minh, ham học, ham hiểu biết những điều mới lạ, sớm có lòng căm thù bọn bán nước và bọn cướp nước. Người lại sinh trưởng trên đất Nghệ An, là nơi có truyền thốn
  • Hảianh12003: * Hoàn cảnh lịch sử Nguyễn Ái Quốc ra đi tìm đường cứu nước trong hoàn cảnh lịch sử trên thế giới và trong nước có nhiều biến chuyển lớn. Trên thế giới, Chủ nghĩa tư bản đã chuyển sang Chủ nghĩa đế quốc, những mâu thuẫn vốn có trong lòng chủ nghĩa tư bản lúc này đã trở nên sâu sắc. Chủ nghĩa đế quốc đã trở thành kẻ thù chung của nhân dân thế giới. Cách mạng tháng Mười Nga bùng nổ và thắng lợi, từ đó đã trở thành tấm gương cho các dân tộc đang đấu tranh giành độc lập dân tộc. Dưới ảnh hưởng của cách mạng tháng 10 Nga làm cho cuộc đấu tranh của nhân dân các nước thuộc địa với phong trào công nhân chính quốc ở các nước chính quốc trở nên gắn bó cùng chống lại kẻ thù chung. Phong trào cách mạng thế giới phát triển rất mạnh, học thuyết Mác-lênin đã được phổ biến rộng ở nhiều nước và có ảnh hưởng lớn đến phong trào cách mạng thế giới. Chính điều đó đã ảnh hưởng đến quá trình tìm đường cứu nước của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Trong nước, chính hoàn cảnh từ quê hương và đất nước nơi Người sinh ra đã tác động mạnh đến việc ra đi tìm đường cứu nước của Người. Nguyễn Ái Quốc sinh ra và lớn lên ở Nghệ An, nơi có truyền thống yêu nước, nơi có nhiều nhà yêu nước bất khuất. Nghệ An cũng là một trong những nơi phát triển mạnh của các phong trào đấu tranh, tiêu biểu là phong trào Cần Vương. Người sinh ra và lớn lên trong hoàn cảnh đất nước bị thực dân Pháp xâm lược, thống trị nhân dân trở thành nô lệ. Các cuộc vùng dậy đấu tranh của nhân dân đều thất bại. Sự thất bại của các phong trào kháng Pháp chứng tỏ cách mạng nước ta đang lâm vào tình trạng khủng hoảng sâu sắc về đường lối cách mạng, thiếu hẳn 1 phương pháp khoa học và 1 giai cấp tiên tiến lãnh đạo cứu nước. Giải phóng dân tộc đã trở thành yêu cầu bức thiết nhất của toàn thể dân tộc Việt Nam. Trong hoàn cảnh đó đã thôi thúc nhiều người dân Việt Nam tìm con đường cứu nước mới, trong đó Nguyễn Ái Quốc là tiêu biểu. * Động cơ đi tìm đường cứu nước Nguyễn Ái Quốc sinh ngày 19/5/1890 ở Kim Liên-Nam Đàn-Nghệ An. Nguyễn Ái Quốc sinh ra trong 1 gia đình trí thức nghèo yêu nước gốc nông dân, anh chị em đều tham gia chống Pháp và bị bắt, bị tù đày. Từ nhỏ Người là 1 người thông minh, ham học, ham hiểu biết những điều mới lạ, sớm có lòng căm thù bọn bán nước và bọn cướp nước. Người lại sinh trưởng trên đất Nghệ An, là nơi có truyền thốn
  • Hảianh12003: * Hoàn cảnh lịch sử Nguyễn Ái Quốc ra đi tìm đường cứu nước trong hoàn cảnh lịch sử trên thế giới và trong nước có nhiều biến chuyển lớn. Trên thế giới, Chủ nghĩa tư bản đã chuyển sang Chủ nghĩa đế quốc, những mâu thuẫn vốn có trong lòng chủ nghĩa tư bản lúc này đã trở nên sâu sắc. Chủ nghĩa đế quốc đã trở thành kẻ thù chung của nhân dân thế giới. Cách mạng tháng Mười Nga bùng nổ và thắng lợi, từ đó đã trở thành tấm gương cho các dân tộc đang đấu tranh giành độc lập dân tộc. Dưới ảnh hưởng của cách mạng tháng 10 Nga làm cho cuộc đấu tranh của nhân dân các nước thuộc địa với phong trào công nhân chính quốc ở các nước chính quốc trở nên gắn bó cùng chống lại kẻ thù chung. Phong trào cách mạng thế giới phát triển rất mạnh, học thuyết Mác-lênin đã được phổ biến rộng ở nhiều nước và có ảnh hưởng lớn đến phong trào cách mạng thế giới. Chính điều đó đã ảnh hưởng đến quá trình tìm đường cứu nước của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Trong nước, chính hoàn cảnh từ quê hương và đất nước nơi Người sinh ra đã tác động mạnh đến việc ra đi tìm đường cứu nước của Người. Nguyễn Ái Quốc sinh ra và lớn lên ở Nghệ An, nơi có truyền thống yêu nước, nơi có nhiều nhà yêu nước bất khuất. Nghệ An cũng là một trong những nơi phát triển mạnh của các phong trào đấu tranh, tiêu biểu là phong trào Cần Vương. Người sinh ra và lớn lên trong hoàn cảnh đất nước bị thực dân Pháp xâm lược, thống trị nhân dân trở thành nô lệ. Các cuộc vùng dậy đấu tranh của nhân dân đều thất bại. Sự thất bại của các phong trào kháng Pháp chứng tỏ cách mạng nước ta đang lâm vào tình trạng khủng hoảng sâu sắc về đường lối cách mạng, thiếu hẳn 1 phương pháp khoa học và 1 giai cấp tiên tiến lãnh đạo cứu nước. Giải phóng dân tộc đã trở thành yêu cầu bức thiết nhất của toàn thể dân tộc Việt Nam. Trong hoàn cảnh đó đã thôi thúc nhiều người dân Việt Nam tìm con đường cứu nước mới, trong đó Nguyễn Ái Quốc là tiêu biểu. * Động cơ đi tìm đường cứu nước Nguyễn Ái Quốc sinh ngày 19/5/1890 ở Kim Liên-Nam Đàn-Nghệ An. Nguyễn Ái Quốc sinh ra trong 1 gia đình trí thức nghèo yêu nước gốc nông dân, anh chị em đều tham gia chống Pháp và bị bắt, bị tù đày. Từ nhỏ Người là 1 người thông minh, ham học, ham hiểu biết những điều mới lạ, sớm có lòng căm thù bọn bán nước và bọn cướp nước. Người lại sinh trưởng trên đất Nghệ An, là nơi có truyền thốn
  • Hảianh12003: * Hoàn cảnh lịch sử Nguyễn Ái Quốc ra đi tìm đường cứu nước trong hoàn cảnh lịch sử trên thế giới và trong nước có nhiều biến chuyển lớn. Trên thế giới, Chủ nghĩa tư bản đã chuyển sang Chủ nghĩa đế quốc, những mâu thuẫn vốn có trong lòng chủ nghĩa tư bản lúc này đã trở nên sâu sắc. Chủ nghĩa đế quốc đã trở thành kẻ thù chung của nhân dân thế giới. Cách mạng tháng Mười Nga bùng nổ và thắng lợi, từ đó đã trở thành tấm gương cho các dân tộc đang đấu tranh giành độc lập dân tộc. Dưới ảnh hưởng của cách mạng tháng 10 Nga làm cho cuộc đấu tranh của nhân dân các nước thuộc địa với phong trào công nhân chính quốc ở các nước chính quốc trở nên gắn bó cùng chống lại kẻ thù chung. Phong trào cách mạng thế giới phát triển rất mạnh, học thuyết Mác-lênin đã được phổ biến rộng ở nhiều nước và có ảnh hưởng lớn đến phong trào cách mạng thế giới. Chính điều đó đã ảnh hưởng đến quá trình tìm đường cứu nước của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Trong nước, chính hoàn cảnh từ quê hương và đất nước nơi Người sinh ra đã tác động mạnh đến việc ra đi tìm đường cứu nước của Người. Nguyễn Ái Quốc sinh ra và lớn lên ở Nghệ An, nơi có truyền thống yêu nước, nơi có nhiều nhà yêu nước bất khuất. Nghệ An cũng là một trong những nơi phát triển mạnh của các phong trào đấu tranh, tiêu biểu là phong trào Cần Vương. Người sinh ra và lớn lên trong hoàn cảnh đất nước bị thực dân Pháp xâm lược, thống trị nhân dân trở thành nô lệ. Các cuộc vùng dậy đấu tranh của nhân dân đều thất bại. Sự thất bại của các phong trào kháng Pháp chứng tỏ cách mạng nước ta đang lâm vào tình trạng khủng hoảng sâu sắc về đường lối cách mạng, thiếu hẳn 1 phương pháp khoa học và 1 giai cấp tiên tiến lãnh đạo cứu nước. Giải phóng dân tộc đã trở thành yêu cầu bức thiết nhất của toàn thể dân tộc Việt Nam. Trong hoàn cảnh đó đã thôi thúc nhiều người dân Việt Nam tìm con đường cứu nước mới, trong đó Nguyễn Ái Quốc là tiêu biểu. * Động cơ đi tìm đường cứu nước Nguyễn Ái Quốc sinh ngày 19/5/1890 ở Kim Liên-Nam Đàn-Nghệ An. Nguyễn Ái Quốc sinh ra trong 1 gia đình trí thức nghèo yêu nước gốc nông dân, anh chị em đều tham gia chống Pháp và bị bắt, bị tù đày. Từ nhỏ Người là 1 người thông minh, ham học, ham hiểu biết những điều mới lạ, sớm có lòng căm thù bọn bán nước và bọn cướp nước. Người lại sinh trưởng trên đất Nghệ An, là nơi có truyền thốn
  • Hảianh12003: nail_bitingrolling_on_the_floor 4/19/2017 5:48:20 AM
  • Minn Minn: big_grin 4/21/2017 6:32:52 AM
  • tranny123: puppy_dog_eyes 5/7/2017 7:32:21 AM
  • Dung3237: cái con kẹc 5/14/2017 6:12:10 AM
  • Hậu Duệ Mặt Trời: yawn 6/12/2017 10:59:36 AM
  • Tiểu Công Tử: . 7/25/2017 11:34:03 AM
  • Tiểu Công Tử: . 7/25/2017 11:34:03 AM
  • Tiểu Công Tử: . 7/25/2017 11:34:03 AM
  • Tiểu Công Tử: . 7/25/2017 11:34:04 AM
  • Tiểu Công Tử: . 7/25/2017 11:34:04 AM
  • Tiểu Công Tử: . 7/25/2017 11:34:04 AM
  • Tiểu Công Tử: . 7/25/2017 11:34:05 AM
  • Tiểu Công Tử: . 7/25/2017 11:34:05 AM
  • Tiểu Công Tử: . 7/25/2017 11:34:05 AM
  • Tiểu Công Tử: . 7/25/2017 11:34:06 AM
  • Tiểu Công Tử: . 7/25/2017 11:34:06 AM
  • Tiểu Công Tử: . 7/25/2017 11:34:06 AM
  • Tiểu Công Tử: . 7/25/2017 11:34:06 AM
  • Tiểu Công Tử: . 7/25/2017 11:34:07 AM
  • Tiểu Công Tử: . 7/25/2017 11:34:07 AM
  • Tiểu Công Tử: . 7/25/2017 11:34:07 AM
  • Tiểu Công Tử: . 7/25/2017 11:34:08 AM
  • Tiểu Công Tử: .. 7/25/2017 11:34:08 AM
  • Tiểu Công Tử: . 7/25/2017 11:34:08 AM
  • Tiểu Công Tử: . 7/25/2017 11:34:09 AM
  • Tiểu Công Tử: .. 7/25/2017 11:34:09 AM
  • Tiểu Công Tử: . 7/25/2017 11:34:10 AM
  • Tiểu Công Tử: . 7/25/2017 11:34:10 AM
  • Tiểu Công Tử: . 7/25/2017 11:34:10 AM
  • Tiểu Công Tử: . 7/25/2017 11:34:10 AM
  • Tiểu Công Tử: . 7/25/2017 11:34:11 AM
  • Tiểu Công Tử: . 7/25/2017 11:34:11 AM
  • Tiểu Công Tử: . 7/25/2017 11:34:11 AM
  • Tiểu Công Tử: . 7/25/2017 11:34:12 AM
  • Tiểu Công Tử: . 7/25/2017 11:34:12 AM
  • Tiểu Công Tử: . 7/25/2017 11:34:13 AM
  • Tiểu Công Tử: . 7/25/2017 11:34:13 AM
  • Tiểu Công Tử: . 7/25/2017 11:34:13 AM
  • Tiểu Công Tử: . 7/25/2017 11:34:14 AM
  • Tiểu Công Tử: . 7/25/2017 11:34:14 AM
  • Tiểu Công Tử: . 7/25/2017 11:34:14 AM
  • Tiểu Công Tử: . 7/25/2017 11:34:15 AM
  • Tiểu Công Tử: . 7/25/2017 11:34:15 AM
  • Tiểu Công Tử: . 7/25/2017 11:34:15 AM
  • Tiểu Công Tử: . 7/25/2017 11:34:16 AM
  • Tiểu Công Tử: . 7/25/2017 11:34:16 AM
  • Tiểu Công Tử: . 7/25/2017 11:34:16 AM
  • Tiểu Công Tử: . 7/25/2017 11:34:17 AM
  • Tiểu Công Tử: . 7/25/2017 11:34:17 AM
  • Tiểu Công Tử: . 7/25/2017 11:34:18 AM
  • Tiểu Công Tử: . 7/25/2017 11:34:18 AM
  • Tiểu Công Tử: . 7/25/2017 11:34:18 AM
  • Tiểu Công Tử: .. 7/25/2017 11:34:19 AM
  • Tiểu Công Tử: . 7/25/2017 11:34:19 AM
  • Tiểu Công Tử: .. 7/25/2017 11:34:21 AM
  • Tiểu Công Tử: . 7/25/2017 11:34:21 AM
  • Tiểu Công Tử: . 7/25/2017 11:34:21 AM
  • Tiểu Công Tử: . 7/25/2017 11:34:22 AM
  • Tiểu Công Tử: . 7/25/2017 11:34:22 AM
  • Tiểu Công Tử: . 7/25/2017 11:34:22 AM
  • Tiểu Công Tử: . 7/25/2017 11:34:22 AM
  • Tiểu Công Tử: . 7/25/2017 11:34:22 AM
  • Tiểu Công Tử: . 7/25/2017 11:34:22 AM
  • Tiểu Công Tử: happy 7/25/2017 11:34:27 AM
  • thuvan6881112002: chào mn 9/9/2017 7:31:13 AM
  • Umi: hi 11/2/2017 8:46:43 AM
  • Umi: có ai k? 11/2/2017 8:46:54 AM
  • kimchi: hi 11/21/2017 4:35:03 AM
  • Yuri: hi 11/21/2017 5:21:04 AM
  • Yuri: có ai ko 11/21/2017 6:23:52 AM
  • Yuri: hi 11/22/2017 4:15:17 AM
  • ๖ۣۜGemღ: Mọi người có thắc mắc hay cần hỗ trợ gì thì gửi tại đây nhé https://goo.gl/dCdkAc 12/6/2017 8:54:12 PM
Đăng nhập để chém gió cùng mọi người
  • Xusint
  • HọcTạiNhà
  • sour_cleverbuffalo4107
  • Dân Nguyễn
  • letoan990099
  • smallhouse253
  • tart
  • hatrangk51spls
  • kaitokidabcd
  • MMOkiemtienonline
  • Trình Lộ Phong
  • holong110720
  • Quốc Anh
  • Ngân Nhi
  • Naruto
  • Hậu Duệ Mặt Trời
  • On Call
  • vanl76004
  • nvtoan1970
  • liyifeng732002
  • be cung
  • Khang Ota
  • hoctainha.hoctot1
  • kimchi