Công cuộc cải tạo quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc từ năm 1958 đến năm 1960 đã đạt được những thành tựu và có những hạn chế gì?
Cải tạo xã hội chủ nghĩa là thực hiện nhiệm vụ của cách mạng xã hội chủ nghĩa về quan hệ sản xuất. Việc nhận thức về cải tạo trước và nay có sự thay đổi. Trước đây quan niệm cải tạo nhằm xóa bỏ các thành phần kinh tế cá thể và tư nhân dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, chỉ để lại hai thành phần kinh tế quốc doanh và hợp tác xã dựa trên hai hình thức : sở hữu nhà nước và tập thể về tư liệu sản xuất. Sau 3 năm khôi phục kinh tế (1955 – 1957) miền Bắc nước ta có nhiều mặt tiến bộ. Tuy nhiên, kinh tế miền Bắc lúc này căn bản vẫn là nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, phân tán, lao động thủ công với năng suất thấp kém, công nghiệp nhỏ bé tồn tại nhiều thành phần. Vì vậy, Đảng và Nhà nước đã đề ra chủ trương: trong 3 năm tiếp theo (1958 – 1960) miền Bắc lấy cải tạo xã hội chủ nghĩa làm trọng tâm:cải tạo đối với nông nghiệp, công nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp nhỏ, công thương nghiệp tư bản tư doanh, mà khâu chính là hợp tác hóa nông nghiệp.
Thực hiện chủ trương trên, khắp nơi trên miền Bắc sôi nổi phong trào vận động xây dựng hợp tác xã. Đến cuối 1960, miền Bắc có trên 85% hộ nông dân với 70% ruộng đất vào hợp tác xã nông nghiệp, hơn 87% số thợ thủ công và 45% số người buôn bán nhỏ vào hợp tác xã. Một bộ phận thương nhân được chuyển sang sản xuất hoặc chuyển thành mậu dịch viên. Đối với tư sản dân tộc, Đảng và Nhà nước chủ trương cải tạo bằng phương pháp hòa bình, sử dụng mặt tích cực của họ phục vụ cho công cuộc xây dựng đất nước. Đến cuối 1960, có hơn 95% hộ tư sản vào công tư hợp doanh.
Đồng thời với cải tạo là nhiệm vụ xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội, trọng tâm là phát triển thành phần kinh tế quốc doanh. Đến 1960, đã có 172 xí nghiệp lớn do trung ương quản lí và trên 500 xí nghiệp do địa phương quản lí.
Những tiến bộ về mặt kinh tế đã tạo điều kiện cho sự nghiệp văn hóa, giáo dục, y tế phát triển, So với năm 1957, năm 1960, số học sinh tăng 80%, số sinh viên tăng gấp đôi. Các cơ sở y tế năm 1960 tăng 11 lần so với năm 1955. Đời sống văn hóa, trình độ hiểu biết của các tầng lớp nhân dân được nâng lên.
Ngày 1/1/1960, Hiến pháp của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa được công bố, phản ánh thành tựu đạt được trong việc thực hiện kế hoạch 3 năm cùng những thay đổi lớn của miền Bắc sau hai kế hoạch ba năm (1954 – 1960). Hiến pháp được xây dựng theo nguyên tắc xã hội chủ nghĩa. Nó khẳng định ý chí, nguyện vọng của nhân dân lao động: xây dựng CNXH ở miền Bắc, đấu tranh thống nhất nước nhà nhằm xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập và dân chủ giàu mạnh. ĐỒng thời nó đặt cơ sở cho việc xây dựng một pháp chế XHCN ở Việt Nam. Hiến pháp ra đời có tác dụng củng cố nền chuyên chính vô sản, tạo điều kiện cho nhân dân miền Bắc xây dựng CNXH. Một mặt là thực hiện thắng lợi kế hoạch 5 năm lần 1 nhằm bước đầu xây dựng cơ sở vật chất – kĩ thuật cho CNXH. Mặt khác nó cổ vũ nhân dân miền Nam trong cuộc đấu tranh nhằm đánh bại chiến tranh xâm lược của đế quốc Mĩ và tay sai.
Công cuộc cải tạo quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc có ý nghĩa rất to lớn. Nó góp phần xóa bỏ về cơ bản chế độ người bóc lột người, góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển, đặc biệt trong chiến tranh, hợp tác xã sản xuất đã đảm bảo những điều kiện vật chất, tư tưởng chính trị cho bộ phận tham gia chiến đấu và phục vụ chiến đấu.
Tuy nhiên, trong cải tạo, chúng ta đã mắc một số sai lầm. Đó là đồng nhất cải tạo với xóa bỏ tư hữu và các thành phần kinh tế cá thể. Nguyên nhân gây ra tình trạng này là do không nắm vững các quy luật kinh tế của thời kỳ quá độ, thể hiện tư tưởng chủ quan, nóng vội. Đồng thời, thực hiên sai các nguyên tắc xây dựng hợp tác xã tự nguyện, công bằng, dân chủ, cùng có lợi, do đó chưa phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của xã viên trong sản xuất. Những hạn chế và sai lầm này đã được Đảng và Chính phủ khắc phục.
Trong công cuộc đổi mới hiện nay, quan niệm về cải tạo không phải là xóa bỏ mà là sử dụng có hiệu quả để tồn tại lâu dài tất cả các thành phần kinh tế. Không phân biệt hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất, có tác dụng thúc đẩy sản xuất phát triển. Đồng thời, hết sức khuyến khích các thành phần kinh tế và các cơ sở sản xuất,mọi người lao động, sản xuất nhiều hàng hóa, nhiều của cải cho xã hội. Và cùng với nhiệm vụ cải tạo là nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hóa.