Hoàn cảnh lịch sử, diễn biến, kết qủa ý nghĩa của phong trào đồng khởi (1959- 1960)
* Điều kiện lịch sử
Trong thời gian ta đấu tranh hòa bình để thi hành Hiệp định Giơ ne vơ, Mĩ – Diệm đã tăng cường đàn áp, khủng bố tàn bạo cách mạng Việt Nam. Trong những năm 1957 – 1959, cách mạng miền Nam gặp muôn vàn khó khăn, tổn thất, Mĩ – Diệm mở rộng chiến dịch “tố cộng, diệt cộng”. Tháng 5/1957, Ngô Đình Diệm ban hành đạo luật đặt cộng sản ngoài vòng pháp luật, ra Luật 10/59 lê máy chém đi khắp miền Nam Việt Nam, làm cho hangd vạn cán bộ, đảng viên bị giết hại, hàng chục vạn đồng bào yêu nước bị tù đày. Nhưng những đòn khủng bố của Mĩ – Diệm không dập tắt được phong trào đấu tranh của nhân dân miền Nam, ngược lại làm nảy sinh thêm phong trào nổi dậy của quần chúng từ các cuộc đấu tranh lẻ tẻ trở thành những cơn bão táp cách mạng.
Vào thời điểm này, chế độ xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc được củng cố, vì vậy đóng góp to lớn về vật chất và tinh thần cho cách mạng miền Nam. Lực lượng cách mạng miền Nam đã trưởng thành trong quá trình đấu tranh gìn giữ và phát triển lực lượng. Đó là những điều kiện thuận lợi để cách mạng miền Nam chiến đấu chống Mĩ – Diệm.
Trên cơ sở đó, tháng 1/1959, Hội nghị lần thứ 15 Ban chấp hành Trung ương Đảng đã quyết định để nhân dân miền Nam sử dụng bạo lực cách mạng đánh đổ chính quyền Mĩ – Diệm. Hội nghị nhấn mạnh: Ngoài con đường dùng bạo lực cách mạng, nhân dân miền nam không có con đường nào khác. Phương hướng cơ bản của cách mạng miền Nam là khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân bằng con đường đấu tranh chính trị là chủ yếu, kết hợp đấu tranh vũ trang đánh đổ ách thống trị của Mĩ – Diệm. Hội nghị quyết định phát động quần chúng nhân dân ở nông thôn nổi dậy khởi nghĩa từng phần, dùng đấu tranh chính trị kết hợp đấu tranh vũ trang đập tan thế kìm kẹp của địch, thành lập chính quyền cách mạng đưa cách mạng miền Nam tiến lên.
Có nghị quyết của Đảng soi sáng, phong trào đấu tranh của nhân dân miền Nam từng bước phát triển lên thành phong trào “Đồng Khởi” có quy mô to lớn.
* Diễn biến
Phong trào nổi dậy từ chỗ lẻ tẻ ở từng địa phương như cuộc nổi dậy ở Vĩnh Thạnh (Bình Định), Bác Ái (Ninh Thuận) tháng 2/1959, ở Trà Bồng (Quảng Ngãi) tháng 8/1959 đã lan ra khắp miền Nam thành cao trào cách mạng, quần chúng nổi dậy phá thế kìm kẹp của địch, làm tan rã từng mảng hệ thống ngụy quyền. Trong phong trào “ĐỒng Khởi”, cuộc Đồng Khởi ở Bến Tre là tiêu biểu nhất, nó đã ghi vào lịch sử cách mạng miền Nam như một chiến thắng có ý nghĩa chiến lược.
Ngày 17/1/1960 dưới sự lãnh đạo của tỉnh ủy Bến Tre, nhân dân ba xã Định Thủy, Phước Hiệp, Bình Khánh thuộc huyện Mỏ Cày, với gậy gộc, giáo mác, súng ống đủ loại đồng loạt nổi dậy đánh đồn bốt địch, diệt ác ôn, giải tán chính quyền địch, tạo thế uy hiếp chúng. Từ ba xã cuộc nổi dậy nhanh chóng lan ra toàn huyện Mỏ Cày và các huyenj Giồng Trôm, Thạnh Phú, Ba Tri, Châu Thành, Bình Đại. Quần chúng nổi dậy giải tán chính quyền địch, thành lập Ủy ban nhân dân tự quản, thành lập lực lượng vũ trang, tịch thu ruộng đất của địa chủ, cường hào, chia cho dân cày nghèo.
* Kết quả và ý nghĩa
Từ Bến Tre, phong trào Đồng Khởi như nước vỡ bờ lan ra các tỉnh Nam Bộ, Tây Nguyên và Trung Trung Bộ. Tính đến cuối 1960, ta đã làm chủ 600/1.298 xã ở Nam Bộ, 904/3.829 thôn ở vùng núi các tỉnh Trung Trung Bộ, 3.200/5.721 thôn ở Tây Nguyên.
Sau thắng lợi của Đồng Khởi, khí thế cách mạng của quần chúng lên cao, lực lượng cách mạng phát triển nhanh chóng, các đoàn thể cách mạng của thanh nien, nông dân, phụ nữ phát triển mạnh mẽ. Ở các huyện, tỉnh các đội lực lượng vũ trang tập trung lần lượt ra đời. Các thôn xã đều có dân quân du kích.
Chiến thắng “Đồng Khởi” là một đòn giáng mạnh, bất ngờ vào tập đoàn thống trị Mĩ – Diệm, làm cho chúng hoang mang lo sợ. Hiện tượng đào ngũ trong quân ngụy ngày càng tăng. Mâu thuẫn Mĩ – Diệm và ngay trong nội bộ Diệm ngày càng gay gắt.
“ĐỒng Khởi” thắng lợi, đánh dấu bước phát triển nhảy vọt của cách mạng miền Nam, chuyển cách mạng từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công mạnh mẽ liên tục, phát triển cao trào cách mạng ra khắp miền Nam với sự kết hợp của 2 hình thức đấu tranh: đấu tranh chính trị, đấu tranh vũ trang. Thắng lợi này cũng tạo điều kiện cho miền Bắc xây dựng CNXH.
Trong khí thế đó, ngày 20/12/1960 Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời, do luật sư Nguyễn Hữu Thọ làm chủ tịch. Mặt trận chủ trương đoàn kết toàn dân, đấu tranh chống đế quốc Mĩ xâm lược và chính quyền Ngô Đình Diệm, thành lập chính quyền cách mạng dưới hình thức những ủy ban nhân dân tự quản.