Trình bày hoàn cảnh, nội dung, ý nghĩa của Hiệp định Pari 1973 về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam.
Hoàn cảnh
Bị thất bại nặng nề ở cả hai miền Nam – Bắc, Mĩ buộc phải đàm phán với ta ở Hội nghị Pari để bàn về việc chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam. Ngày 13/5/1968, cuộc đàm phán chính thức Hai bên, giữa đại diện Chính phủ VNDCCH và đại diện Chính phủ Hoa Kỳ họp phiên đầu tiên tại Pari.
Ngày 1/11/1968, Tổng thống Mĩ Giôn xơn tuyên bố ngừng ném bom bắn phá trên toàn miền Bắc. Từ đây, đấu tranh giữa ta và Mĩ chủ yếu xoay quanh vấn đề hình thức, thành phần hội nghị và đã đi đến thống nhất về Hình thức hội nghị bốn bên giữa VNDCCH, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam VN ( sau đó là Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miến Nam VN), Hoa Kỳ và VN Cộng hòa (chính quyền Sài Gòn). Hội nghị Bốn bên về VN chính thức họp phiên đầu tiên ngày 25/1/1969 tại Pari.
Hội nghị diễn ra trong bối cảnh Mĩ liên tiếp thất bại trong chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, đặc biệt là trong cuộc tổng tiến công chiến lược của ta mùa hè 1972. Ta cũng đã đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại trở lại của Mĩ ở miền Bắc. Phong trào đấu tranh đòi chấm dứt chiến tranh xâm lược của Mĩ liên tục diễn ra trên thế giới và cả ở Mĩ.
Tháng 10/1972, khi nước Mĩ chuẩn bị bước vào cuộc bầu cử Tổng thống, bản dự thảo Hiệp định Pari được hoàn tất và hai bên đã thỏa thuận ngày kí chính thức. Mĩ trở mặt, gây sức ép buộc ta phải nhân nhượng bằng cách mở cuộc tập kích bằng máy bay chiến lược B52 vào Hà Nội và Hải Phòng cuối 1972. Nhưng Mĩ đã thất bại. Quân và dân ta đã đập tan cuộc tập kích chiến lược đường không bằng máy bay B52 của Mĩ, làm nên trận “Điện Biên Phủ” trên không”, do đó buộc Mĩ phải kí dự thảo Hiệp định Pari do VN đưa ra trước đó.
Ngày 23/1/1973 Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở VN được kí kết giữa đại diện hai Chính phủ VNDCCH và Hoa Kỳ.
Ngày 27/1/1973 Hiệp định đã được kí chính thức giữa bồn Ngoại trưởng, đại diện cho các chính phủ tham dự Hội nghị Pari. Hiệp định Pari bắt đầu có hiệu lực từ ngày kí chính thức.
Nội dung Hiệp định
Hoa Kỳ và các nước cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ Việt nam.
Hai bên ngừng bắn ở miền Nam vào lúc 24 giờ ngày 27/1/1973 và Hoa Kỳ cam kết chấm dứt mọi hoạt động quân sự chống miền Bắc Việt Nam.
Hoa Kỳ rút hết quân đội của mình và quân các nước đồng minh, hủy bỏ các căn cứ quân sự, cam kết không tiếp tục dính líu quân sự hoặc can thiệp vào công việc nội bộ của miền Nam Việt Nam.
Nhân dân miền Nam Việt Nam tự quyết định tương lai chính trị của họ thông qua tổng tuyển cử tự do, không có sự can thiệp của nước ngoài.
Các bên thừa nhận thực tế miền Nam Việt Nam có hai chính quyền, hai quân đội, hai vùng kiểm soát và ba lực lượng chính trị (lực lượng cách mạng, lực lượng hòa bình trung lập và lực lượng chính quyền Sài Gòn).
Hai bên trao trả tù binh và dân thường bị bắt.
Hoa Kỳ cam kết góp phần vào việc hàn gắn vết thương chiến tranh ở Việt Nam và Đông Dương, thiết lập quan hệ bình thường cùng có lợi với Việt Nam.
Hiệp định Pari về Việt Nam được Hội nghị họp ngày 2/3/1973 tại Pari, gồm đại biểu các nước Liên Xô, Trung Quốc, Anh, Pháp, bốn bên tham gia kí Hiệp định và bốn nước trong Ủy ban giám sát và kiểm soát quốc tế (Ba an, Canada, Hunggari, Inđônêxia) với sự có mặt của Tổng thư kí Liên Hợp quốc. Tất cả các nước tham dự hội nghị đã kí vào bản Định ước công nhận về mặt pháp lý quốc tế Hiệp định Pari về Việt Nam và bảo đảm cho Hiệp định được thi hành nghiêm chỉnh.
Ý nghĩa của Hiệp định
Hiệp định Pari về Việt Nam được kí kết có ý nghĩa lịch sử quan trọng. Hiệp định Pari đã ghi nhận các quyền dân tộc cơ bản của Việt Nam là độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, Mĩ và các nước khác không được dính líu quân sự hoặc can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam.
Hiệp định Pari về Việt Nam là thắng lợi của sự kết hợp giữa đấu tranh quân sự, đấu tranh chính trị và ngoại giao, là kết quả của cuộc đấu tranh kiên cường, bất khuất của quân dân ta ở hai miền đất nước, mở ra bước ngoặt mới cho cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước của dân tộc.
Hiệp định Pari về Việt Nam cũng là kết quả của cuộc đấu tranh kiên cường, bất khuất của quân dân ta trên cả hai miền Nam – Bắc, đã mở ra bước ngoặt mới của cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước của nhân dân ta. Quân Mĩ và quân đội nước ngoài phải rút toàn bộ khỏi miền Nam, tạo điều kiện để tiến tới giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.
Đây là thắng lợi lịch sử quan trọng tạo thời cơ thuận lợi để nhân dân ta tiến lên “đánh cho Ngụy nhào” vì mục đích cuối cùng của sự nghiệp chống Mĩ cứu nước vẫn chưa đạt được vởi Mĩ đã “cút” theo hiệp định Pari nhưng “ngụy vẫn chưa nhào”.