Khái quát quá trình diễn biến Hội nghị Pari về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam (từ tháng 5/1968 đến tháng 1/1973)
Trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước, đấu tranh ngoại giao là một trong những mặt trận đấu tranh của nhân dân ta, trong đó đấu tranh quân sự và chính trị là nhân tố chủ yếu, là cơ sở thắng lợi trên mặt trận ngoại giao.
Năm 1965, Mĩ một mặt tiến hành chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” ở miền Nam và mở rộng chiến trường ra miền Bắc, Giôn xơn bắt đầu nói đến vấn đề hòa bình thương lượng, nhưng thực chất là luận điệu ngoại giao lừa bịp để phối hợp với hoạt động quân sự của chúng.
Đầu 1967, sau thắng lợi trong hai mùa khô 1965 – 1966 và 1966 – 1967, ta chủ trương mở thêm mặt trận tiến công ngoại giao, nhằm tố cáo tội ác của đế quốc Mĩ, vạch trần luận điệu hòa bình bịp bợm của chúng, nêu cao tính chất chính nghĩa, lập trường đúng đắn của ta, tranh thủ rộng rãi sự đồng tình, ủng hộ của dư luận quốc tế.
Mục tiêu đấu tranh ngoại giao trước mắt của ta là đòi Mĩ chấm dứt không điều kiện chiến tranh phá hoại miền Bắc, coi đó là điều kiện tiên quyết để đi đến thương lượng ở bàn hội nghị.
Ngày 31/3/1968, sau đòn tấn công bất ngờ của quân dân ta trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân, Giôn xơn tuyên bố ngừng ném bom bắn phá miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở ra và bắt đầu nói đến đàm phán với Việt Nam.
Ngày 13/5/1968, cuộc đàm phán chính thức Hai bên, giữa đại diện Chính phủ VNDCCH và đại diện Chính phủ Hoa Kỳ họp phiên đầu tiên tại Pari.
Ngày 1/11/1968, Tổng thống Mĩ Giôn xơn tuyên bố ngừng ném bom bắn phá trên toàn miền Bắc. Từ đây, đấu tranh giữa ta và Mĩ chủ yếu xoay quanh vấn đề hình thức, thành phần hội nghị và đã đi đến thống nhất về Hình thức hội nghị bốn bên giữa VNDCCH, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam VN ( sau đó là Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miến Nam VN), Hoa Kỳ và VN Cộng hòa (chính quyền Sài Gòn).
Hội nghị Bốn bên về VN chính thức họp phiên đầu tiên ngày 25/1/1969 tại Pari. Từ phiên họp đầu tiên đến khi đạt được giải pháp hiệp định, Hội nghị bốn bên ở Pari trải qua nhiều phiên họp chung công khai và nhiều cuộc tiếp xúc riêng. Lập trường Bốn bên, mà thực chất là hai bên VN và Hoa Kỳ, rất khác nhau, mâu thuẫn nhau, khiến cho cuộc đấu tranh diễn ra gay gắt trên bàn thương lượng.
Trong các phiên họp chung công khi cũng như các cuộc tiếp xúc riêng, phía VN chĩa mũi nhọn đấu tranh vào hai vấn đề mấu chốt: đòi quân Mĩ và đồng minh rút hết khỏi miền Nam và đòi họ tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân VN và quyền tự quyết của nhân dân miền Nam VN.
Phía Mĩ có quan điểm ngược lại, nhất là vấn đề rút quân. đòi quân đội miền Bắc cũng phải rút quân khỏi miền Nam, và từ chối kí dự thảo Hiệp định do phía VN đưa ra ( 10/1972) để rồi mở cuộc tập kích bằng máy bay B52 vào Hà Nội, Hải Phòng trong 12 ngày đêm cuối 1972 với ý đồ buộc phía VN kí dự thảo Hiệp định do Mĩ đưa ra.
Nhưng Mĩ đã thất bại. Quân và dân ta đã đập tan cuộc tập kích chiến lược đường không bằng máy bay B52 của Mĩ, làm nên trận “Điện Biên Phủ” trên không”, do đó buộc Mĩ phải kí dự thảo Hiệp định Pari do VN đưa ra trước đó.
Ngày 23/1/1973 Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở VN được kí kết giữa đại diện hai Chính phủ VNDCCH và Hoa Kỳ.
Ngày 27/1/1973 Hiệp định đã được kí chính thức giữa bồn Ngoại trưởng, đại diện cho các chính phủ tham dự Hội nghị Pari. Hiệp định Pari bắt đầu có hiệu lực từ ngày kí chính thức.