Quân dân ta đã chiến đấu chống chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” và “Đông Dương hóa chiến tranh” của Mĩ (1969 – 1973) như thế nào?
Chiến đấu chống chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” và “Đông Dương hóa chiến tranh” của Mĩ (1969 – 1973) là chiến đấu chống lại cuộc chiến tranh xâm lược toàn diện được tăng cường với lực lượng địch lúc cao nhất trên 1,5 triệu lính Sài Gòn, Mĩ và đồng minh,và mở rộng ra toàn Đông Dương. Chúng ta vừa chiến đấu ở chiến trường vừa đấu tranh với địch trên bàn đàm phán.
Trong những năm đầu chống chiến lược “VN hóa chiến tranh”, lực lượng cách mạng có những tổn thất và khó khăn, một mặt do địch gây ra, mặt khác do ta chủ quan trong việc đánh giá âm mưu mới của địch, chậm trễ trong việc đề ra chủ trương, biện pháp đối phó hữu hiệu.
Nhưng các khó khăn của ta đã từng bước được khắc phục, tạo điều kiện cho cách mạng tiếp tục giành thắng lợi.
Thắng lợi chính trị mở đầu giai đoạn chống “VN hóa chiến tranh” là sự ra đời của Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam VN ngày 6/6/1969. Đó là chính phủ hợp pháp của nhân dân miền Nam. Vừa ra đời, Chính phủ CM lâm thời đã được 23 nước công nhận, trong đó có 21 nước đặt quan hệ ngoại giao.
Giữa lúc cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước của nhân dân ta ở cả hai miền và cuộc cách mạng XHCN miền Bắc đang trên đà thắng lợi thì chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời vào 2/9/1969. Đó là một tổn thất lớn, không gì có thể bù đắp đối với dân tộc ta, đối với cách mạng nước ta.
Thực hiện lời chúc Tết 1969 của chủ tịch HCM: “Vì độc lập, vì tự do, đánh cho Mĩ cút, đánh cho ngụy nhào”, và di chúc thiêng liêng của Người để lại trước khi qua đời, quân dân miền Nam cùng với quân dân miền Bắc ra sức đẩy mạnh kháng chiến chống Mĩ cứu nước.
Trong hai năm 1970 – 1971, nhân dân ta cùng nhân dân Lào, Campuchia đã giành được những thắng lợi có ý nghĩa chiến lược trên mặt trận quân sự và chính trị.
Trong hai ngày 24 và 25/4/1970, Hội nghị cấp cao 3 nước Việt Nam – Lào – Campuchia họp nhằm đối phó lại việc Mĩ chỉ đạo bọn tay sai làm đảo chính lật đổ chính phủ trung lập Xi ha núc của Campuchia (18/3/1970) để chuẩn bị cho bước phiêu lưu quân sự mời, biểu thị quyết tâm của nhân dân ba nước Đông DƯơng đoàn kết chiến đấu chống Mĩ.
Từ ngày 30/4 – 30/6/1970, quân đội Việt Nam có sự phối hợp của quân dân Campuchia đã đập tan cuộc hành quân xâm lược Campuchia của 10 vạn quân Mĩ và quân đội Sài Gòn, loại khỏi vòng chiến đấu 17.000 địch, giải phóng nhiều vùng đất đai rộng lớn với 4,5 triệu dân.
Từ ngày 12/2 đến 23/31971, quân đội Việt Nam có sự phối hợp của quân dân Lào đã đập tan cuộc hành quân mang tên “Lam SƠn 719” chiếm giữ đường 9 Nam Lào của 4,5 vạn quân Mĩ và quân đội Sài Gòn, loại khỏi vòng chiến đấu 22.000 địch, buộc quân Mĩ và quân đội Sài Gòn phải rút khỏi Đường 9 – Nam Lào, giữ vững hành lang chiến lược của cách mạng Đông Dương.
Thắng lợi trên mặt trận quân sự đã hỗ trợ và thúc đẩy phong trào đấu tranh chính trị, chống “bình định”.
Ở khắp các thành thị, phong trào của các tầng lớp nhân dân nổ ra liên tục. Đặc biệt ở Sài Gòn, Huế, Đã Nẵng, phong trào học sinh, sinh viên nổ ra rầm rộ đã thu hút đông đảo giới trẻ tham gia. Phong trào học sinh, sinh viên có vai trò quan trọng, thường “châm ngòi nổ” cho phong trào chung của các tầng lớp nhân dân thành thị.
Tại các vùng nông thôn, đồng bằng, rừng núi, ven thị, khắp nơi có phong trào của quần chúng nổi dậy chống “bình định”, phá “ấp chiến lược” của địch. Đến đầu 1971, cách mạng giành quyền làm chủ thêm 3.600 ấp với 3 triệu dân. Chính quyền cách mạng cũng đã cấp cho nông dân trên 1,6 triệu héc ta ruộng đất. Trong vùng giải phóng, các hoạt động sản xuất nông nghiệp, thủ công nghiệp được đẩy mạnh, công tác văn hóa, giáo dục, y tế cũng đã đạt những kết quả quan trọng.
Những thắng lợi quân sự, chính trị trên đây, nhất là thắng lợi ở Đường 9 – Nam Lào và Đông Bắc Campuchia nửa đầu 1971 đã làm phá sản bước đầu chiến lược “VN hóa chiến tranh” và “Đông DƯơng hóa chiến tranh” của Mĩ, mở ra khả năng thực tế làm phá sản hoàn toàn chiến lược đó.
Trưa 30/3/1972, quân ta bắt đầu cuộc tiến công chiến lược theo kế hoạch của Quân ủy trung ương. Mở đầu cuộc tiến công, ta đánh vào Quảng Trị, lấy Quảng Trị làm hướng tiến công chủ yếu, rồi phát triển rộng ra khắp chiến trường miền Nam và kéo dài trong năm 1972. Kết quả là sau gần 3 tháng chiến đấy (đến cuối 6/1972) quân ta đã loại khỏi vòng chiến đấu một lực lượng lớn sinh lực địch, khoảng hơn 20 vạn quân, phá hạ và thu một khối lượng lớn phương tiện chiến tranh, gồm 636 xe tăng và xe bọc thép, 419 khẩu pháo, 340 máy bay, giải phóng những vùng đất đai rộng lớn hơn 1 triệu dân. Đó là đòn mạnh mẽ giáng vào chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mĩ.
Sau đòn mở đầu bất ngờ của quân ta, quân ngụy có sự yểm trợ tối đa của hỏa lực, không quân và hải quân Mĩ, đã phản công mạnh, gây thiệt hại cho ta. Phối hợp với ngụy, chính quyền Ních xơn “Mĩ hóa” trở lại một phần cuộc chiến tranh xâm lược miền Nam và hải quân phá hoại miền Bắc từ 6/4/1972.