Hãy so sánh chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” và chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của Mĩ trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam.
Trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, Mĩ đã sử dụng thí điểm ở Việt Nam rất nhiều chiến lược chiến tranh xâm lược. Tiêu biểu là chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” (1961 – 1965), chiến lược “Chiến tranh cục bộ” (1965 – 1968) . Hai chiến lược chiến tranh này đều nhằm mục đích giúp Mĩ bình định miền Nam Việt Nam, phá hoại miền Bắc và biến nước ta thành thuộc địa của Mĩ.
So sánh hai chiến lược chiến tranh này, để biết được quy mô, tính chất ác liệt của chiến tranh mà Mĩ gây ra tại Việt Nam.
Điểm giống nhau giữa hai chiến lược chiến tranh này là cả hai chiến lược đều là chiến tranh xâm lược thực dân kiểu mới của Mĩ, nhằm biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới của chúng.
Điểm khác nhau căn bản giữa hai chiến lược này là về hoàn cảnh thực hiện chiến lược, quy mô chiến tranh, tính chất ác liệt của chiến tranh mà Mĩ gây ra tại Việt Nam.
Điểm khác nhau đầu tiên, Mĩ thực hiện hai chiến lược này trong hai hoàn cảnh lịch sử khác nhau.
Chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” diễn ra từ năm 1961 – 1965. Giai đoạn này có những biến động về tình hình đấu tranh chống Mĩ xâm lược ở cả Việt Nam và trên thế giới. Năm 1960, phong trào “Đồng Khởi” nổ ra và giành được những kết quả nhất định, đánh dấu việc Mĩ thất bại trong âm mưu chống phá các cuộc đấu tranh hòa bình của cách mạng miền Nam. Sau thắng lợi của phong trào “Đồng Khởi”, quân dân miền Nam tiếp tục đấu tranh chống chính quyền Mĩ – Diệm.
Trên thế giới, phong trào giải phóng dân tộc đang dấy lên mạnh mẽ trực tiếp đe dọa hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc. Về phía Mĩ, từ cuối năm 1960, hình thức thống trị bằng chính quyền tay sai độc tài Ngô Đình Diệm bị thất bại. Ken nơ đi đã đề ra chiến lược toàn cầu “phản ứng linh hoạt” và tiến hành chiến tranh xâm lược miền Nam Việt Nam, thí điểm loại hình chiến tranh “Chiến tranh đặc biệt”.
Chiến lược “Chiến tranh cục bộ” diễn ra trong thời gian từ 1965 – 1968. Sau thất bại của chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”, Mĩ đẩy mạnh chiến tranh xâm lược, ồ ạt đưa quân viễn chinh và quân chư hầu cùng với vũ khí, phương tiện chiến tranh vào miền Nam Việt Nam, chuyển sang chiến lược “Chiến tranh cục bộ” ở miền Nam và mở rộng chiến tranh phá hoại miền Bắc.
Điểm khác nhau thứ hai, về quy mô của cuộc chiến tranh. “Chiến tranh đặc biệt” chủ yếu được tiến hành ở miền Nam, còn “Chiến tranh cục bộ” được mở rộng ra cả miền Bắc, Mĩ thực hiện chiến tranh phá hoại cơ sở vật chất kĩ thuật của CNXH ở miền Bắc bằng hệ thống không quân, hải quân nhằm ngăn chặn sự chi viện từ hậu phương lớn cho tiền tuyến lớn miền Nam.
Điểm khác nhau thứ ba, về tính chất ác liệt của chiến tranh. Chiến lược “Chiến tranh cục bộ” ác liệt hơn chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”, thể hiện ở mục tiêu, lực lượng tham gia, vũ khí, hỏa lực.
Mĩ đã tiến hành hàng loạt các cuộc hành quân “tìm diệt” và “bình định” vào “Đất thánh Việt cộng” trong chiến lược “Chiến tranh cục bộ”. Đồng thời, tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc XHCN. Số lượng lính Mĩ tập trung , có mặt ở miền Nam lớn, tính đến cuối 1967 lên tới 53.700 tên. Mĩ sử dụng phổ biến vũ khí hiện đại nhất, hỏa lực mạnh nhất cả trên bộ, trên không và trên biển… nhằm tiêu diệt cách mạng miền Nam, phá hoại cách mạng miền Bắc, ngăn chặn cách mạng cả nước.
Chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” được tiến hành bằng quân đội tay sai, dưới sự chủ huy của hệ thống “cố vấn” Mĩ, dựa vào vũ khí, trang bị kĩ thuạt, phương tiện chiến tranh của Mĩ nhằm chống lại các lực lượng cách mạng và nhân dân ta. Âm mưu cơ bản của chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” là “ dùng người Việt đánh người Việt”. Chúng mở mang và “bình định” miền Nam. Mỹ - Ngụy coi “ấp chiến lược” là “quốc sách”, là xương sống của chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”, nhằm đẩy lực lượng cách mạng ra khỏi xã ấp.
“Chiến tranh cục bộ” bắt đầu từ giữa 1965, được tiến hành bằng lực lượng quân Mĩ, quân một số nước đồng minh của Mĩ và quân đội Sài Gòn. Trong đó quân Mĩ giữ vai trò quan trọng và không ngừng tăng lên về số lượng, trang bị, quân Ngụy vẫn giữ vai trò quyết định. Quân số lúc cao nhất (1969) lên gần 1,5 triệu tên, trong đó quân Mĩ chiếm hơn nửa triệu. Mĩ nhảy vào cuộc chiến nhằm cứu nguy cho quân Ngụy khỏi sụp đổ, tiếp tục thực hiện mục tiêu chống các lưc lượng cách mạng và nhân dân ta trên cả hai miền Nam – Bắc.
Mặc dù với quy mô rộng, tính chất ác liệt ngày càng tăng trong hai chiến lược chiến tranh, nhưng Mĩ vẫn không thực hiện được âm mưu của mình là đàn áp phong trào đấu tranh của nhân dân hai miền, biến Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới của chúng. Sự thất bại của các chiến lược chiến tranh của Mĩ chứng tỏ sự đấu tranh anh dũng, kiên cường, sáng tạo, khắc phục mọi khó khăn, gian khổ của quân và dân hai miền Nam Bắc. Qua thất bại của các chiến lược chiến tranh đã chứng minh khả năng đánh thắng giặc Mĩ xâm lược của nhân dân Việt Nam.