Miền Bắc đã lập những thành tích gì trong sản xuất và chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của Mĩ từ năm 1965 đến 1968?
Ngay từ khi Mĩ mở rộng chiến tranh, miền Bắc đã kịp thời chuyển mọi hoạt động sang thời chiến. Cách mạng miền Bắc tiến hành đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược, vừa chiến đấu, vừa sản xuất. Chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của Mĩ nhằm bảo vệ sản xuất, bảo vệ công cuộc xây dựng CNXH, đảm bảo đời sống nhân dân, phục vụ nhiệm vụ chiến đấu và làm nghĩa vụ hậu phương lớn. Với ý nghĩa đó chiến đấu và sản xuất ở miền Bắc là bộ phận của cuộc chiến tranh giải phóng miền Nam, của cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước của dân tộc nói chung.
* Miền Bắc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của Mĩ
Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi cả nước: “Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp cóa thể bị tàn phá. Song nhân dân Việt Nam quyết không sợ. Không có gì quý hơn độc lập tự do. Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”.
Miền Bắc kịp thời chuyển mọi hoạt động phù hợp với tình hình mới, , thực hiện quân sự hóa toàn dân, đào đắp công sự chiến đấu, hầm hào phòng tránh, triệt để sơ tán, phân tán những nơi đông dân để tránh thiệt hại về người và của, đảm bảo đời sống ổn định cho người dân.
Chống lại những hành động phá hoại của địch là nhiệm vụ của các lực lượng phòng không, không quân, hải quân với vũ khí, phương tiện chiến tranh hiện đại, của cả lực lượng tự vệ, dân quân và toàn dân với vũ khí thông thường. Địch đến là đánh, ai không trực tiếp sản xuất thì phục vụ chiến đấu, bình thường thì toàn dân sản xuất.
Trong hơn 4 năm (5/8/1964 đến ngày 1/11/1968) quân và dân miền Bắc đã bắn rơi 3.234 máy bay Mĩ (trong đó có 6 máy bay B52, 3 máy bay F111), diệt và bắt sống hàng nghìn giặc lái Mĩ, bắn chìm và bị thương 143 tàu chiến và tàu biệt kích.
Cùng với những thất bại ở chiến trường miền Nam, đặc biệt là sau cuộc tổng công kích, tổng tiến công tết Mậu Thân 1968, Mĩ buộc tuyên bố ném bom hạn chế miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở ra kể từ ngày 31/3/1968 và đến ngày 1/11/1968, Mĩ ngừng ném bom, bắn phá miền Bắc hoàn toàn.
* Tiếp tục tiến lên CNXH
Trong chiến đấu và sản xuất, trên miền Bắc dấy lên phong trào thi đua chống Mĩ, cứu nước, thể hiện sáng ngời chân lý “không có gì quý hơn độc lập tự do” với các khẩu hiệu “Nhằm thẳng quân thù mà bắn”, “quyết tâm đánh thắng giặc Mĩ xâm lược”. Giai cấp công nhân quyết tâm “chắc tay súng, vững tay búa”, “phấn đấu đạt 3 điểm cao”. Nông dân quyết tâm “chắc tay súng, vững tay cày”, phấn đấu đạt ba mục tiêu.. Thanh niên có phong trào “ba sẵn sàng”, phụ nữ có phong trào “ba đảm đang”, giáo viên, học sinh có phong trào thi đua “hai tốt”, thiếu niên nhi đồng có phong trào “làm nghìn việc tốt”…
Qua các phong trào thi đua, quân dân ta tỏ rõ sức mạnh của một dân tộc giàu truyền thống lao động cần cù, sáng tạo, chiến đấu thông minh, dũng cảm, đã lập được thành tích to lớn trong chiến đấu và sản xuất.
Để phù hợp với tình hình mới, Đảng chủ trương chuyển hướng nền kinh tế miền Bắc từ thời bình sang thời chiến, tập trung vào vieeccj xây dựng và phat triển kinh tế vùng, kinh tế địa phương nhằm đảm bảo cho mỗi vùng miền, mỗi địa phương chủ động hơn trong việc duy trì và đẩy mạnh sản xuất, tự cung, tự cấp những mặt hàng thiết yếu trong điều kiện chiến tranh ác liệt.
Trên mặt trận sản xuất, miền Bắc cũng lập được những thành tích quan trọng.
Trong nông nghiệp, diện tích canh tác được mở rộng, năng suất lao động không ngừng tăng lên, ngày càng có nhiều hợp tác xã, nhiều địa phương đạt “3 mục tiêu” (5 tấn thóc, 2 đầu lợn, 1 lao động trên 1 héc ta gieo trồng trong 1 năm). Năm 1965, miền Bắc có 7 huyện, 640 hợp tác xã đạt mục tiêu 5 tấn thóc/héc ta gieo trồng hai vụ, đến 1967, tăng lên 30 huyện và 2.485 hợp tác xã.
Trong công nghiệp, năng lực sản xuất ở một số ngành được giữ vững. Các cơ sở công nghiệp lớn đã kịp thời sơ tán, phân tán, sớm đi vào sản xuất, đáp ứng nhu cầu thiết yếu của chiến đấu, sản xuất và đời sống. Công nghiệp địa phương và công nghiệp quốc phòng đều phát triển. Mỗi tỉnh trở thành một đơn vị kinh tế tương đối hoàn chỉnh.
Trong giao thông vận tải, nhân dân miền Bắc đã bất chấp bom đạn, ra sức khôi phục và bảo vệ các mạch máu giao thông của miền Bắc và hệ thống đường vận tải chiến lược Bắc – Nam, đáp ứng nhu cầu vận tải phục vị công tác chi viện cho miền Nam.
Trong lĩnh vực tài chính – thương mại, đảm bảo được việc cung ứng vốn, hàng hóa phục vụ cho việc phát triển kinh tế thời chiến và yêu cầu chiến đấu.
Trong văn hóa, giáo dục, y tế, nền giáo dục vẫn tiếp tục phát triển, đặc biệt là trong giáo dục đại học, số sinh viên tăng gấp 3 lần so với trước chiến tranh phá hoại, số cán bộ có trình độ đại học năm 1965 là 20.000, đến 1969 lên đến 40.000 người. Các ngành văn hóa, nghệ thuật hoạt động sôi nổi phục vụ cho quần chúng, y tế có những thành tựu mới về chuyên môn.
* Chi viện cho miền Nam
Từ đầu thời kì chống Mĩ cứu nước, miền Bắc được xác định là hậu phương và khi Mĩ mở rộng chiến tranh, miền Bắc là hậu phương lớn. Trong bất cứ tình huống nào miền Bắc đêu thực hiện đầy đủ nghĩa vụ hậu phương và hậu phương lớn chi viện sức người, sức của cho tiền tuyến lớn miền Nam ( cả Lào, Campuchia) ngay cả trong điều kiện chiến tranh ác liệt, bị tàn phá nặng nề.
Nhân dân miền Bắc đã vượt qua những khó khăn, thách thức, dấy lên một cao trào cách mạng rộng lớn chưa từng có trong lao động sản xuất. Tất cả nhân dân miền Bắc chung sức, chung lòng, vừa chiến đấu xây dựng chủ nghĩa xã hội với tinh thần “tất cả cho tiền tuyến tất cả để chiến thắng” và “mỗi người làm việc bằng hai vì đồng bào miền Nam ruột thịt”, “thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”.
Những thành quả trên là một nguồn lực đáng kể giúp cho miền Bắc làm tròn nghĩa vụ hậu phương lớn cho miền Nam. Qua hai tuyến đường vận chuyển chiến lược Hồ Chí Minh trên bộ và trên biển đã nối liền hậu phương với tiền tuyến. Trong 4 năm (1965 – 1968) miền Bắc đã đưa vào miền Nam hơn 30 vạn cán bộ, bộ đội tham gia chiến đấu, phục vụ chiến đấu, xây dựng kinh tế, văn hóa tại các vùng giải phóng, cùng hàng chục vạn tấn vũ khí, đạn dược, quân trang, quân dụng, xăng dầu, lương thực, thực phẩm, thuốc men và nhiều vật dụng khác. Tính chung, sức người, sức của từ miền Bắc chuyển vào miền Nam trong 4 năm đã tăng gấp 10 lần so với giai đoạn trước.
Sự chi viện to lớn đó đã góp phần quyết định thắng lợi của quân dân ta ở miền Nam trong cuộc chiến đấu chống “Chiến tranh cục bộ” của Mĩ – Ngụy.
* Ý nghĩa
Những thành tựu đạt được ở miền Bắc có ý nghĩa vô cùng to lớn. “Thật là hiếm có trong lịch sử, một nền kinh tế lại có thể lớn mạnh trong chiến tranh. Một đất nước chiến tranh liên miên lại không đi liền với đói rét, dịch bệnh, thất học và có thể giữ vững được mức sống nhân dân trong lúc phải đáp ứng yêu cầu ngày càng lớn của cuộc chiến đấu tại chỗ của chiến trường miền Nam”.
Miền Bắc đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của giặc Mĩ. Tiếp tục xây dựng CNXH, giữ vững và tăng cường về mọi mặt, thực hiện một cách xuất sắc vai trò của hậu phương lớn. Đó là một sự nghiệp phi thường của quân và dân ta ở miền Bắc. Như vậy, hai nhiệm vụ chiến đấu và sản xuất đã hỗ trợ nhau một cách đắc lực và đã cùng nhau giành thắng lợi vẻ vang. Cuộc đấu tranh chống chiến tranh phá hoại và công cuộc xây dựng CNXH đó còn phối hợp với cuộc chiến đấu ở miền Nam và góp phần quyết định đánh bại Mĩ trong “Chiến tranh cục bộ”.
Sở dĩ chúng ta có những thắn lợi đó là do có đường lối lãnh đạo đúng đắn của Đảng, Bác Hồ, cùng một lúc giương cao hai ngọn cờ độc lập dân tộc và CNXH. Đồng thời, do tinh thần chiến đấu dũng cảm, lao động sáng tạo, tinh thần khắc phục khó khăn, gian khổ của quân dân miền Bắc. Ngoài ra, có sự ủng hộ giúp đỡ của Liên Xô, cộng đồng XHCN, bè bạn thế giới.