Diễn biến và ý nghĩa lịch sử cuộc Tổng tiến công và nổi dậy của quân dân miền Nam Tết Mậu Thân 1968.
* Hoàn cảnh lịch sử
Về phía quân địch, sau thất bại của hai cuộc phản công mùa khô 1965 – 1966 và 1966 – 1967 đã đặt chúng trước những khó khăn vì chúng đã sử dụng một lực lượng quân lớn với vũ khí trang bị hiện đại, song mục tiêu của cuộc chiến tranh vẫn không đạt được. Bên cạnh đó, năm 1968, bước vào năm bầu cử tổng thống, các phe phái trong nội bộ nước Mĩ lục đục, chia rẽ. Hoàn cảnh đó đã tác động mạnh đến việc mở cuộc tổng tiến công và nổi dậy của ta
Về phía ta, trên cơ sở nhận định so sánh tương quan lực lượng thay đổi có lợi cho cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước sau hai mùa khô, Đảng chủ trương mở cuộc “tổng công kích, tổng khởi nghĩa trên toàn miền Nam”, chủ yếu đánh vào các đô thị nhằm tiêu diệt một bộ phận quan trọng quân viễn chinh Mĩ, đánh sập ngụy quân, ngụy quyền, giành chính quyền về tay nhân dân, buộc Mĩ phải đàm phán rút hết quân về nước.
* Diễn biến
Cuộc tổng tiến công và nổi dậy được mở đầu bằng cuộc tập kích chiến lược của quân chủ lực vào hầu khắp các đô thị miền Nam trong đêm 30 rạng sáng 31/1/1968 ( tết Mậu Thân). Cuộc tổng tiến công và nổi dậy diễn ra qua ba đợt: từ đêm 30/1 đến 25/2; đợt 2: tháng 5 và 6; đợt 3: tháng 8 và 9/1968.
Quân ta đồng loạt tiến công và nổi dậy ở 37 trong tổng số 44 tỉnh, 4 trong 6 đô thị lớn, 64 trong số 242 quận lị, ở hầu khắp các “ấp chiến lược”, các vùng nông thôn.
Tại Sài Gòn, Quân giải phóng tiến công các vị trí đầu não của địch như Tòa đại sứ Mĩ, Dinh Độc lập, Bộ Tổng tham mưu quân đội Sài Gòn, Bộ Tư lệnh Biệt khu thủ đô, Tổng nha Cảnh sát, Đài phát thanh, sân bay Tân Sơn Nhất. Trong đợt 1, ta loại khỏi vòng chiến đấu 147.00 tên địch, trong đó có 43.000 lính Mĩ, phá hủy một khối lượng lớn vật chất và phương tiện chiến tranh của chúng.
Từ trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy, có thêm nhiều lực lượng mới chống Mĩ, chống chính quyền Sài Gòn, mặt trận đoàn kết dân tộc chống Mĩ, cứu nước được mở rộng. Tổ chức Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình ở Sài Gòn, Huế và toàn miền Nam, đại diện cho tầng lớp trí thức, tư sản dân tộc tiến bộ ở các thành thị được thành lập.
Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân đã đánh đòn bất ngờ, làm cho địch choáng váng. Nhưng do lực lượng địch cong đông (hơn nửa triệu quân Mĩ và đồng minh, gần 1 triệu quân Sài Gòn), cơ sở ở thành thị mạnh, nên chúng đã nhanh chóng tổ chức lại lực lượng, phản công ta cả ở thành thị lẫn nông thôn. Vì vậy trong đợt 2 và 3, lực lượng của ta gặp không ít khó khăn và tổn thất.
Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy còn có những hạn chế đó là do ta “chủ quan trong việc đánh giá tình hình, đề ra yêu cầu chưa thật sát với tình hình thực tế lúc đó, nhất là sau đợt tiến công xuân Mậu Thân, ta không kịp thời kiểm điểm, rút kinh nghiệm để đánh giá lại tình hình và có chủ trương chuyển hướng kịp thời, ta chậm thấy cố gắng mới của địch và những khó khăn của ta lúc đó”.
* Ý nghĩa
Mặc dù có những hạn chế và tổn thất, song ý nghĩa của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 vẫn hết sức to lớn. Giáng một đòn quyết định vào chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của Mĩ, gây cho chúng những tổn thất nặng nề về người, phương tiện chiến tranh. Mở ra bước ngoặt của cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước, đã làm lung lay ý chí xâm lược của quân Mĩ, buộc Mĩ phải tuyên bố “phi Mĩ hóa” chiến tranh xâm lược( tức là thừa nhận thất bại của “Chiến tranh cục bộ”), chấm dứt không điều kiện chiến tranh phá hoại miền Bắc, chấp nhận đến đàm phán ở Pari (5/1968) để bàn về chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam.