Quân và dân ta đã chiến đấu chống chiến lược “Chiến tranh cục bộ” (1965 – 1968) như thế nào?
Cuộc chiến đấu chống “Chiến tranh cục bộ” của nhân dân ta là cuộc chiến đấu vô cùng ác liệt gian khổ vì lực lượng địch rất đông, mạnh về phương tiện vũ khí chiến tranh hiện đại. Cùng với chống chiến tranh ở miền Nam, Mĩ còn mở rộng đánh phá bằng không quân, hải quân nhằm tiêu diệt cách mạng xã hội chủ nghĩa miền Bắc, ngăn chặn chi viện cho tiền tuyến miền Nam.
Tuy nhiên, dưới ánh sáng của nghị quyết 11, 12 của Trung ương Đảng soi đường, có lời kêu gọi thiêng liêng của chủ tịch Hồ Chí Minh: “không có gì quý hơn độc lập tự do”. Nhân dân cả nước đã nêu cao ý chí kiên cường chống Mĩ cứu nước, chống chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của Mĩ bằng sức mạnh của cả dân tộc, của tiền tuyến và hậu phương, với ý chí quyết thắng giặc Mĩ xâm lược. Và với ý chí đó, chúng ta đã giành các chiến thắng trên mặt trận quân sự: chiến thắng Vạn Tường, mùa khô 1965 – 1966, mùa khô 1966 – 1967 và cuộc Tổng tiến công nổi dậy tết Mậu Thân 1968.
Chiến thắng Vạn Tường
Mở đầu là thắng lợi ở Núi Thành (Quảng Nam), Vạn Tường (QUảng Ngãi). Mờ sáng 18/8/1965, Mĩ huy động 9000 quân và nhiều xe tăng, xe bọc thép, máy bay lên thẳng, máy bay phản lực chiến đấu, tàu chiến, mở cuộc hành quân vào thôn Vạn Tường nhằm tiêu diệt một đơn vị chủ lực của ta. Sau một ngày chiến đấu, một trung đoàn chủ lực của ta cùng với quân du kích và nhân dân địa phương đã đẩy lùi cuộc hành quân của địch, loại khỏi vòng chiến đấu 900 tên, bắn cháy hàng chục xe tăng, xe bọc thép và hạ nhiều máy bay.
Chiến thắng Vạn Tường là thắng lợi mở đầu của quân và dân ta trong chiến đấu chống “Chiến tranh cục bộ”. Thắng lợi đó đã chứng minh khả năng của quân dân ta có thể đánh thắng hoàn toàn quân Mĩ – Ngụy trong “chiến tranh cục bộ”. Vạn Tường được coi là “Ấp Bắc” đối với quân Mĩ, mở đầu cao trào “Tìm Mĩ mà đánh, lùng ngụy mà diệt” trên khắp miền Nam.
Chiến thắng mùa khô 1965 - 1966
Sau trận Vạn Tường, khả năng đánh thắng quân Mĩ trong cuộc chiến đấu chống “Chiến tranh cục bộ” của quân dân ta tiếp tục được thể hiện trong hai mùa khô.
Bước vào mùa khô thứ nhất (đông – xuân 1965 – 1966) với 72 vạn quân( trong đó có hơn 22 vạn quân Mĩ và đồng minh), địch mở đợt phản công với 450 cuộc hành quân, trong đó có 5 cuộc hành quân “tìm diệt” lớn nhằm vào hai hướng chiến lược chính là Đông Nam Bộ và Liên Khu V với mục tiêu đánh bại chủ lực Quân giải phóng. Quân dân ta trong thế trận chiến tranh nhân dân, với nhiều phương thức tác chiến đã chặn đánh địch trên mọi hướng, tiến công địch ở khắp mọi nơi. Trong 4 tháng mùa khô (từ tháng 1/1966) trên toàn miền Nam, quân dân ta đã loại khỏi vòng chiến đấu 104.000 địch, trong đó 42.000 quân Mĩ, 3.500 quân đồng mình, bắn rơi 1.430 máy bay.
Chiến thắng mùa khô 1966 - 1967
Bước vào mùa khô thứ hai (đông xuân 1966 – 1967), với lực lượng được tăng cường lên hơn 98 vạn quân (trong đó quân Mĩ và đồng minh chiếm hơn 44 vạn), Mĩ mở cuộc phản công với 895 cuộc hành quân, trong đó có ba cuộc hành quân lớn “tìm diệt”, “bình định”: cuộc hành quân Attơnborơ đánh vào chiến khu Dương Minh Châu (11/1966); cuộc hành quân Xêđaphôn đánh vào Trảng Bàng, Bến Súc, Củ Chi (1/1967); cuộc hành quân Gianxơn Xiti đánh vào chiến khu Dương Minh Châu (4/1967). Trong đó lớn nhất là cuộc hành quân Gian xơn Xiti đánh vào căn cứ Dương Minh Châu (Bắc Tây Ninh), nhằm tiêu diệt quân chủ lực và cơ quan đầu não kháng chiến của ta, tạo bước ngoặt trong chiến tranh.
Trong mùa khô thứ hai, quân dân miền Nam đã chủ động tiến công, mở hàng loatj trận phản công đẩy lùi tất cả cuộc hành quân “tìm diệt” và “bình định” của địch, loại khỏi vòng chiến đâu 151.000 địch, trong đó 68.000 quân Mĩ, 5.500 quân đồng minh, bắn rơi 1.231 máy bay.
Ở hầu khắp các vùng nông thôn, quần chúng được sự hỗ trợ của lực lượng vũ trang đã đứng lên đấu tranh chống ách kìm kẹp của địch, phá từng mảng “ấp chiến lược”. Trong hầu khắp các thành thị, công nhân, các tầng lớp lao động khác, học sinh, sinh viên, Phật tử, một số binh sĩ quân đội Sài Gòn… đấu tranh đòi Mĩ rút về nước, đòi tự do dân chủ. Vùng giải phóng được mở rộng, uy tín của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam được nâng cao trên trường quốc tế.
Đến cuối 1967, Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt nam có cơ quan thường trực ở hầu hết các nước xã hội chủ nghĩa và một số nước khác. Cương lĩnh của Mặt trận được 41 nước, 12 tổ chức quốc tế và 5 tổ chức khu vực lên tiếng ủng hộ.
Cuộc tổng tiến công và nổi dậy tết Mậu Thân 1968
Bước vào mùa xuân 1968, xuất phát từ nhận định so sánh lực lượng đã thay đổi có lợi cho ta sau hai mùa khô, đồng thời lợi dụng mâu thuẫn ở Mĩ trong những năm bầu cử tổng thống( 1968), ta chủ trương mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy trên toàn miền Nam, trọng tâm là các đô thị, nhằm tiêu diệt một bộ phận lực lượng quân Mĩ, đồng minh, đánh đòn mạnh vào chính quyền và quân đội Sài Gòn, giành chính quyền về tay nhân dân, buộc Mĩ phải đàm phán, rút quân về nước.
Cuộc tổng tiến công và nổi dậy được mở đầu bằng cuộc tập kích chiến lược của quân chủ lực vào hầu khắp các đô thị miền Nam trong đêm 30 rạng sáng 31/1/1968 ( tết Mậu Thân). Cuộc tổng tiến công và nổi dậy diễn ra qua ba đợt: từ đêm 30/1 đến 25/2; đợt 2: tháng 5 và 6; đợt 3: tháng 8 và 9/1968.
Quân ta đồng loạt tiến công và nổi dậy ở 37 trong tổng số 44 tỉnh, 4 trong 6 đô thị lớn, 64 trong số 242 quận lị, ở hầu khắp các “ấp chiến lược”, các vùng nông thôn.
Tại Sài Gòn, Quân giải phóng tiến công các vị trí đầu não của địch như Tòa đại sứ Mĩ, Dinh Độc lập, Bộ Tổng tham mưu quân đội Sài Gòn, Bộ Tư lệnh Biệt khu thủ đô, Tổng nha Cảnh sát, Đài phát thanh, sân bay Tân Sơn Nhất. Trong đợt 1, ta loại khỏi vòng chiến đấu 147.00 tên địch, trong đó có 43.000 lính Mĩ, phá hủy một khối lượng lớn vật chất và phương tiện chiến tranh của chúng.
Từ trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy, có thêm nhiều lực lượng mới chống Mĩ, chống chính quyền Sài Gòn, mặt trận đoàn kết dân tộc chống Mĩ, cứu nước được mở rộng. Tổ chức Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình ở Sài Gòn, Huế và toàn miền Nam, đại diện cho tầng lớp trí thức, tư sản dân tộc tiến bộ ở các thành thị được thành lập.
Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân đã đánh đòn bất ngờ, làm cho địch choáng váng. Nhưng do lực lượng địch cong đông (hơn nửa triệu quân Mĩ và đồng minh, gần 1 triệu quân Sài Gòn), cơ sở ở thành thị mạnh, nên chúng đã nhanh chóng tổ chức lại lực lượng, phản công ta cả ở thành thị lẫn nông thôn. Vì vậy trong đợt 2 và 3, lực lượng của ta gặp không ít khó khăn và tổn thất.
Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy còn có những hạn chế đó là do ta “chủ quan trong việc đánh giá tình hình, đề ra yêu cầu chưa thật sát với tình hình thực tế lúc đó, nhất là sau đợt tiến công xuân Mậu Thân, ta không kịp thời kiểm điểm, rút kinh nghiệm để đánh giá lại tình hình và có chủ trương chuyển hướng kịp thời, ta chậm thấy cố gắng mới của địch và những khó khăn của ta lúc đó”.
Mặc dù có những hạn chế và tổn thất, song ý nghĩa của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 vẫn hết sức to lớn. Nó đã làm lung lay ý chí xâm lược của quân Mĩ, buộc Mĩ phải tuyên bố “phi Mĩ hóa” chiến tranh xâm lược( tức là thừa nhận thất bại của “Chiến tranh cục bộ”), chấm dứt không điều kiện chiến tranh phá hoại miền Bắc, chấp nhận đến đàm phán ở Pari để bàn về chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đã mở ra bước ngoạt của cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước.