Mĩ và quân đội tay sai đã tiến hành chiến lược “Chiến tranh cục bộ” (1965 – 1968) như thế nào?
Sau thất bại của chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”, Mĩ đẩy mạnh chiến tranh xâm lược, ồ ạt đưa quân viễn chinh và quân chư hầu cùng với vũ khí, phương tiện chiến tranh vào miền Nam Việt Nam, chuyển sang chiến lược “Chiến tranh cục bộ” ở miền Nam và mở rộng chiến tranh phá hoại miền Bắc.
“Chiến tranh cục bộ” là một trong ba chiến lược nằm trong chiến lược quân sự toàn cầu “Phản ứng linh hoạt” của Mĩ.
“Chiến tranh cục bộ” bắt đầu từ giữa 1965, là loại hình chiến tranh xâm lược thực dân mới, được tiến hành bằng lực lượng quân Mĩ, quân một số nước đồng minh của Mĩ và quân đội Sài Gòn. Trong đó quân Mĩ giữ vai trò quan trọng và không ngừng tăng lên về số lượng, trang bị, quân Ngụy vẫn giữ vai trò quyết định. Quân số lúc cao nhất (1969) lên gần 1,5 triệu tên, trong đó quân Mĩ chiếm hơn nửa triệu. Mĩ nhảy vào cuộc chiến nhằm cứu nguy cho quân Ngụy khỏi sụp đổ, tiếp tục thực hiện mục tiêu chống các lưc lượng cách mạng và nhân dân ta.
Với chiến lược “Chiến tranh cục bộ” Mĩ âm mưu nhanh chóng tạo ra ưu thế về binh lực và hỏa lực có thể áp đảo quân chủ lực của ta bằng chiến lược quân sự mới “tìm diệt”, cố giành lại thế chủ động trên chiến trường, đẩy lực lượng vũ trang của ta trở về phòng ngự, buộc ta phải phân tán nhỏ, hoặc rút về biên giới, làm cho chiến tranh tàn lụi dần.
Dựa vào ưu thế quân sự với quân số đông, vũ khí hiện đại, quân Mĩ vừa mới vào miền Nam đã mở ngay cuộc hành quan “tìm diệt” vào căn cứ của Quân giải phóng ở Vạn Tường (Quảng Ngãi). Tiếp đó, Mĩ mở liền hai cuộc phản công chiến lược mùa khô (đông – xuân 1965 – 1966 và 1966 -1967) bằng hàng loạt cuộc hành quân “tìm diệt” và “bình định” vào vùng “đất thánh Việt cộng”. QUy mô và cường độ bắn phá được mở rộng và ác liệt hơn so với “Chiến tranh đặc biệt”.