Từ sau chiến thắng Biên giới thu – đông 1950 đến trước Đông xuân 1953 – 1954, hậu phương kháng chiến đã phát triển như thế nào trên các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế?
Sau chiến thắng Biên giới thu – đông 1950, ta chủ động phát triển hậu phương kháng chiến trên tất cả các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế nhằm phục vụ nhu cầu thiết yếu nhất cả nhân dân và Chính phủ kháng chiến.
Hậu phương kháng chiến của ta bao gồm: vùng tự do và vùng du kích nằm sâu trong lòng địch. Vấn đề xây dựng, củng cố hậu phương vững chắc cũng là một mặt trận đấu tranh gay gắt giữa ta và địch. Vấn đề này được Đảng đặt ra ngay từ đầu cuộc kháng chiến. Và đến thời kỳ này, khi quân ta mở nhiều chiến dịch đánh vận động thì nhu cầu cung cấp nhân tài, vật lực cho tiền tuyến ngày càng cao. Vì vậy, vấn đề củng cố hậu phương để cuộc kháng chiến vững mạnh về mọi mặt trở nên bức thiết. Chúng ta đã xây dựng hậu phương trên tất cả các lĩnh vực của đời sống.
Về chính trị, thực hiện nghị quyết Đại hội đại biểu lần II của Đảng, từ ngày 3 đến ngày 7/3/1951 Đại hội toàn quốc thống nhất Mặt trận Việt Minh và Hội Liên Việt thành một mặt trận duy nhất, lấy tên là Mặt trận Liên hiệp QUốc dân Việt Nam ( Mặt trận Liên Việt) do Tôn Đức Thắng làm chủ tịch, Hồ Chí Minh làm chủ tịch danh dự. Khối đoàn kết toàn dân được củng cố và tăng cường rõ rệt. Bên cạnh đó chính quyền nhân dân các cấp được kiện toàn, trở thành một công cụ sắc bén, cỏ đủ sức mạnh động viên toàn dân tham gia kháng chiến – kiến quốc.
Trên mặt trận ngoại giao, tăng cường sức mạnh đoàn kết ba nước Đông Dương. Ngày 11/3/1951, Mặt trận Liên Việt, Mặt trận Khơme Ítxarắc, Mặt trận Lào Ítxara họp Hội nghị đại biểu để thành lập Liên minh nhân dân Việt – Miên – Lào. Liên minh thành lập, đã tăng cường khối đoàn kết ba nước trong đấu tranh chống kẻ thù chung là thực dân Pháp và can thiệp Mĩ.
Phong trào thi đua yêu nước ngày càng thấm sâu, lan rộng trong các ngành, các giới, làm nảy nở nhiều đơn vị, cá nhân ưu tú. Ngày 1/5/1952, Đại hội Chiến sĩ thi đua và Cán bộ gương mẫu toàn quốc lần thứ nhất đã tổng kết, biểu dương thành tích của phong trào thi đua ái quốc và chọn được 7 anh hùng, đó là: Cù Chính Lan, La Văn Cầu, Nguyễn Quốc Trị, Nguyễn Thị Chiên, Ngô Gia Khảm, Trần Đại Nghĩa, Hoàng Hanh.
Về kinh tế, năm 1952, Chính phủ mở cuộc vận động lao động sản xuất và thực hành tiết kiệm đã thực sự trở thành một phong trào quần chúng sôi nổi, lôi cuốn mọi ngành, mọi giới tham gia.
Trong nông nghiệp, phong trào tổ đổi công, hợp tác phát triển khắp vùng tự do cũng như vùng căn cứ du kích. Trên cả nước đâu đâu cũng thấy phong trào thâm canh, tăng vụ, khai hoang, vừa tích cực trồng lúa, vừa phát triển hoa màu, chăn nuôi và các ngành nghề tiểu, thủ công. Nông dân các vùng sau lưng địch, kiên quyết đấu tranh chống địch để sản xuất và bảo vệ sản xuất. Những cuộc đấu tranh chính trị của đồng bào ta chống giặc bắn đại bác ra đồng và cho xe lội nước nghiền nát lúa… diễn ra ở các nơi. Trong các vùng tự do, các cơ quan, đơn vị bộ đội, bệnh viện, trường học đều có vườn tăng gia và tự đặt cho mình nhiệm vụ giúp dân chống hạn, trừ sâu, cày cấy, gặt hái cho kịp thời vụ.
Để thiết thực bồi dưỡng sức dân, nhất là nông dân, đầu 1953, Đảng và Chính phủ quyết định phát động quần chúng triệt để giảm tô và cải cách ruộng đất. Từ tháng 4/1953 đến tháng 7/1954, ta đã thực hiện 5 đợt giảm tô và một đợt cải cách ruộng đất tại 53 xã thuộc vùng tự do ở Thái Nguyên, Thanh Hóa. Cho đến năm 1953, tính từ Liên khu IV trở ra, ta đã tạm cấp 184.434 ha ruộng đất của thực dân, địa chủ, ruộng “vắng chủ”, ruộng bỏ hoang cho nông dân. Năm 1953, vùng tự do và vùng căn cứ du kích từ Liên khu IV trở ra đã sản xuất được hơn 2,7 triệu tấn thóc và hơn 65 vạn tấn hoa màu.
Trong công nghiệp, ngành công nghiệp quốc phòng vẫn được giữ vững và đẩy mạnh được tốc độ sản xuất. Năm 1953, ta sản xuất được 3.500 tấn vũ khí đạn dược, cung cấp tạm đủ cho bộ đội về thuốc men, quân trang, quân dụng. Sản xuất thủ công nghiệp và công nghiệp về cơ bản đáp ứng được những yêu cầu về công cụ sản xuất và những mặt hàng thiết yếu của đời sống.
Đi đôi với việc đẩy mạnh sản xuất, Chính phủ còn đề ra những chính sách nhằm chấn chỉnh chế độ thuế, khóa, xây dựng nền tài chính, ngân hàng, thương nghiệp. Năm 1951, Chính phủ ban hành sắc lệnh về thuế nông nghiệp nhằm tập trung một khối lượng lượng thực cần thiết, bảo đảm đủ cung cấp cho tiền tuyến và thực hiện sự đóng góp công bằng, hợp lý của các tầng lớp nhân dân. Tháng 6/1951, ngân hàng Quốc gia Việt Nam được thành lập và phát hành đồng bạc Việt Nam mới. Sau đó mậu dịch quốc doanh – mầm mống đầu tiên của thương nghiệp xã hội chủ nghĩa ra đời. Nhờ vậy từ 1951 trở đi, tình hình tài chính của nước ta đã tiến bộ rõ rệt. Nhà nước căn bản thăng bằng được thu – chi.
Bên cạnh nhiệm vụ chủ yếu là xây dựng nền kinh tế kháng chiến tự cung tự cấp, công tác đấu tranh kinh tế với địch lúc này được chú trọng nhằm đánh bại chính sách “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh” của địch. Ở các vùng sau lưng địch, cuộc chiến đấu chống địch càn quét, phá hoại mùa màng, cướp bóc lùa gạo diễn ra quyết liệt. Ở các vùng tự do, nhân dân ta vừa chiến đấu chống máy bay địch ném bom bắn phá đê điều, kho tang… vừa đấu tranh chống sự xâm nhập kinh tế của địch.
Về văn hóa, giáo dục, y tế được chú trọng phát triển. Với công cuộc cải cách giáo dục từ 1950, giáo dục nhà trường đã gắn liền với đời sống xã hội, sinh hoạt nhà trường cũng dần dần được dân chủ hóa. Giáo dục được thực hiện theo ba phương châm: “phục vụ kháng chiến, phục vụ dân sinh, phục vụ sản xuất”. Tính đến năm 1952, ở các liên khu: Việt Bắc, III, IV và V đã có trên 1 triệu học sinh phổ thông. Đến 1952, phong trào bình dân học vụ đã giúp khoảng 14 triệu người thoát nạn mù chữ và đến tháng 9/1953, công tác bổ túc văn hóa đã có 10.405 lớp học với 335.946 học viên.
Trong lĩnh vực văn hóa, nhiều văn nghệ sĩ hăng hái thâm nhập mọi mặt của cuộc sống, chiến đấu và sản xuất, thực hiện lời dạy của chủ tịch Hồ Chí Minh: “Kháng chiến hóa văn hóa, văn hóa hóa kháng chiến”.
Trong y tế, công tác vận động vệ sinh phòng bệnh, thực hiện đời sống mới, bài trừ mê tín dị đoan ngày càng có tính chất quần chúng rộng lớn. Công tác chăm lo sức khỏe cho nhân dân được coi trọng. Bệnh viện, bệnh xá, phòng y tế, trạm cứu thương được xây dựng.
với những sự vận động tích cực ở hậu phương không chỉ động viên được sức lao động của người ở hậu phương mà quan trọng là kích thích tốt tinh thần chiến đấu của các chiến sĩ ngoài mặt trận, thể hiện bản chất tốt của nhà nước mới, chính quyền mới được nhân dân tin tưởng và ủng hộ.