ĐƯỜNG LỐI KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP CỦA ĐẢNG (1946 - 1947)
Ngay khi thực dân Pháp bội ước và tiến công nước ta, TW Đảng đã phát động đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp dựa trên việc phân tích những khó khăn và thuận lợi nhất định. Dưới sự lãnh đạo của Đảng nhân dân ta phấn khởi tin tưởng vào cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc. Truyền thống đấu tranh anh dũng chống ngoại xâm được phát huy và đã có kinh nghiệm chống Pháp ở Nam Bộ. Trong chiến tranh thế giới thứ 2, Pháp bị thiệt hại nặng nề, tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược cách xa biên giới nước Pháp gần 10.000km. Phong trào phản đối chiến tranh đòi hòa bình dân chủ ở nước Pháp đang dâng lên. Phong trào giải phóng dân tộc, hòa bình dân chủ, CNXH đang ở thế phát triển tiến công là một thuận lợi cho VN. Đồng thời, cách mạng VN cũng có sự gắn bó với 2 nước bạn ào, CPC cùng chung một kẻ thù xâm lược. Đó là những thuận lợi cơ bản khi ta phát động đường lối kháng chiến.
Bên cạnh đó, là những khó khăn nhất định với cách mạng nước ta. Chính quyền nước ta lúc này còn non trẻ, VN lại vốn là nước có nền kinh tế lạc hậu và bị chiến tranh tàn phá. Kẻ thù của ta là một tên đế quốc với vũ khí hiện đại, sĩ quan chỉ huy thành thạo, có kinh nghiệm trong chiến tranh xâm lược, thông thạo chiến trường VN, có đế quốc Mĩ giúp sức…
Từ việc phân tích những thuận lợi và khó khăn đó, cùng với gắn với thực tiễn cách mạng VN, Đảng ta đã phát động đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp thông qua các văn kiện, chỉ thị.
Chỉ thị Toàn dân kháng chiến (22/12/1946), Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến (19/12/1946) của chủ tịch HCM và tác phẩm Kháng chiến nhất định thắng lợi (1947) của đồng chí Trường Chinh là những văn kiện lịch sử quan trọng về đường lối kháng chiến, nêu rõ tính chất, mục đích, nội dung và phương châm của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Ngày 22/12/1946 Ban thường vụ TW Đảng ra chỉ thị “ Toàn dân kháng chiến” nêu khái quát nội dung cơ bản về đường lối kháng chiến trong đó nêu rõ mục đích, tính chất, chính sách và cách đánh của ta. Năm 1947, Tổng Bí thư Trường Chinh viết tác phẩm “Kháng chiến nhất định thắng lợi” giải thích rõ đường lối kháng chiến của ta. Đó là đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài và tự lực cánh sinh. Từ ba văn kiện đó đã toát lên đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kì, tự lực cánh sinh và tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế.
Kháng chiến toàn dân, tức là tất cả mọi người dân trên đất nước đều tham gia, lấy lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt. Kháng chiến toàn dân thì Đảng ta phải giáo dục tổ chức, động viên toàn dân tham gia kháng chiến, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân. Đường lối kháng chiến toàn dân sử dụng bài học cha ông ta từ ngày xưa để lại. Trong lúc đất nước ta còn nghèo, lực lượng chính quy nhỏ bé, vũ khí thô sơ, ta cần phát huy sức mạnh toàn dân, dựa vào dân kháng chiến mới đánh được lâu dài, phát huy được lối đánh du kích. Với chiến lược toàn dân kháng chiến, chính phủ kháng chiến đã tổ chức cả nước thành một mặt trận, tạo nên thế trận cả nước đánh giặc. Điều kiện chủ yếu để quyết định thắng lợi của cuộc kháng chiến là huy động cho được sức mạnh toàn dân. Trong Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, chủ tịch HCM đã kêu gọi: “Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, ngưởi trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái dân tộc. Hễ là người VN thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng, ai c ó gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước.” Trong kháng chiến, chúng ta đã biết tổ chức động viên các tầng lớp nhân dân đứng lên đánh giặc, chính phủ kháng chiến đã phát động toàn dân tham gia kháng chiến bằng nhiều biện pháp đa dạng phong phú và phù hợp, làm cho toàn dân thấ rõ mục đích kháng chiến, từ đó xác định trách nhiệm phải đứng lên đánh giặc cứu nước. Đồng thời, trong quá trình kháng chiến, chính quyền cách mạng còn chăm lo thực hành những cải cách dân chủ, giải quyết từng bước vấn đề ruộng đất, nhằm bồi dưỡng sức dân, nhân dân hăng hái, phấn khởi, tự nguyện góp ngày càng nhiều cho kháng chiến.
Kháng chiến toàn diện tức là tiến hành kháng chiến trên tất cả mọi lĩnh vực: ngoại giao, chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục. Chúng ta tiến hành kháng chiến toàn diện mới phát huy được lực lượng toàn dâ. Kháng chiến toàn diện là nét đặc sắc của chiến tranh nhân dân, có mối quan hệ gắn bó, chặt chẽ. Thực dân Pháp tiến hành chiến tranh tổng lực, đánh phá ta trên tất cả các mặt. Để đánh bại chiến tranh tổng lực của địch, ta phải đánh chúng trên tất cả các mặt đó, tạo thành sức mạnh tổng hợp, tiến công toàn diện kẻ địch.
Về chính trị: đường lối cách mạng nhấn mạnh vấn đề xây dựng khối toàn dân đoàn kết. Trong suốt cuộc kháng chiến, ta đã ra sức củng cố khối liên minh công, nông và trí thức, không ngừng mở rộng mặt trận đoàn kết dân tộc. Chính phủ cách mạng đặc biệt chăm o củng cố và xây dựng nhà nước, thường xuyên kiện toàn bộ máy kháng chiến từ TW đến địa phương, kiên quyết trấn áp bọn phản CM và đẩy mạnh đấu tranh chính trị ở cả thành thị và nông thôn.
Về quân sự, chính phủ đã chăm lo vũ trang toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, xác định đánh lâu dài làm phương châm chiến lược, quán triệt tư tưởng tích cực tiến công, kết hợp đánh địch cả bằng chiến tranh du kích và chiến tranh chính quy, cả bằng quân sự, chính trị và binh vận. Phải xây dựng cho được 3 thứ quân làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc. Tiến công địch ở cả 3 vùng chiến lược: nông thôn, đô thị và miền núi
Về kinh tế, ta vừa phải phá kinh tế địch, vừa xây dựng kinh tế của ta, giảm tô, giảm tức, cải cách ruộng đât, xây dựng nền kinh tế của ta trong thời chiến. Đảng lãnh đạo nhân dân ta vượt lên mọi khó khăn, xây dựng nền kinh tế tự chủ, bảo đảm nhu cầu của kháng chiến. Kết hợp chặt chẽ nhiệm vụ kháng chiến với kiến quốc.
Về văn hóa, ta vừa chống lại văn hóa nô dịch của địch, vừa xây dựng nền văn hóa mới với 3 nguyên tắc: dân tộc, khoa học và đại chúng.
Về ngoại giao, đấu tranh trên mặt trận ngoại giao, mở rộng quan hệ quốc tế, làm cho nhân dân thế giới kể cả nhân dân Pháp hiểu và ủng hộ cuộc kháng chiến của nhân dân ta.
Kháng chiến lâu dài, đây là một chủ trương sáng suốt của Đảng ta dựa trên sự vận dụng chủ nghĩa Mác – Lê nin vào hoàn cảnh cụ thể của nước ta, phát huy truyền thống cha ông, lấy yếu đánh mạnh, chính nghĩa chiến thắng hung tàn. Trong 3 văn kiện nói trên của cách mạng VN cũng chỉ ra phương châm của cuộc kháng chiến là: kháng chiến lâu dài dựa vào sức mình là chính. Đây cũng chính là quy luật tất yếu của chiến tranh nhân dân do điều kiện so sánh lực lượng giữa ta và địch quy định. Đảng ta chỉ rõ: chỗ mạnh của địch là quân sự, chỗ yếu của địch là chính trị. “Địch mạnh về ngọn, ta mạnh về gốc”. Âm mưu và chiến lược của Pháp “đánh nhanh thắng nhanh”, ta phải phá âm mưu đó. Tương quan lực lượng giữa ta và địch chênh lệch, ta thua về vật chất nhưng mạnh về tinh thần, như vậy thời gian lâu dài sẽ giúp ta có thời gian củng cố lực lượng vũ trang, trang bị về kinh tế, vũ khí, xây dựng hậu phương vững chắc để kháng chiến chống Pháp.
Kháng chiến tự lực cánh sinh, lúc này chúng ta chưa có sự liên hệ với một nước nào trên thế giới về vật chất – tinh thần nên chưa nhận được sự giúp đỡ của một nước nào. Chính vì vậy, chúng ta phải chủ động trên tất cả các mặt, dựa vào nội lực của đất nước để chiến đấu. Đồng thời ta cũng tích cực kêu gọi sự đồng tình, ủng hộ của quốc tế.
Khi ta phát động đường lối kháng chiến, chúng ta có những thuận lợi và khó khăn cơ bản tác động. Trước hết là thuận lợi, nhân dân ta phấn khởi tin tưởng vào cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng, chính phủ và HCM. Chúng ta cũng đã có truyền thống đấu tranh anh dũng chống ngoại xâm và đã có kinh nghiệm chống Pháp ở Nam Bộ. Trong khi đó, Pháp bị thiệt hại trong chiến tranh thế giới thứ 2, tiến hành cuộc chiến tranh xa nước Pháp gần 10.000 km. Phong trào phản đối chiến tranh đòi hòa bình dân chủ nước Pháp đang dâng lên. Đồng thời, phong trào giải phóng dân tộc, hòa bình dân chủ, chủ nghĩa xã hội đang ở thế phát tiến công có sự gắn bó với 2 nước bạn Lào, Campuchia cùng chung 1 kẻ thù xâm lược. Cùng với những thuận lợi là những khó khăn, chính quyền cách mạng non trẻ, VN vốn là nước kinh tế lạc hậu bị chiến tranh tàn phá. Kẻ thù của ta lại là 1 tên đế quốc sành sỏi với vũ khí hiện đại, sĩ quan chỉ huy thành thạo, có kinh nghiệp trong chiến tranh xâm lược, thông thạo chiến trường VN. Đặc biệt chúng lại có Mĩ giúp sức đằng sau.
Phát huy những thuận lợi, Đảng, Chính phủ ta đã phát động đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp 1 cách sáng suốt nhất, phù hợp với hoàn cảnh thực tế VN lúc bấy giờ. Sự lãnh đạo của Đảng thể hiện đường lối kháng chiến đúng đắn: độc lập, tự chủ và sáng tạo. Đường lối đó là sự kết tinh những nguyên lý phổ biến của chủ nghĩa Mác – Lê nin về cách mạng bạo lực, về chiến tranh nhân dân được vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể của nước ta. Đường lối kháng chiến trải qua thực tiễn chiến đấu được phát triển và hoàn chỉnh, là nguyên nhân đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi. Đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài và tự lực cánh sinh chính là sức mạnh, động lực, là mục đích của nhân dân ta trong suốt 9 năm trường kỳ kháng chiến, là một trong những nhân tố quan trọng quyết định cho thắng lợi của cách mạng.