Cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện
Sau chiến thắng Việt Bắc thu – đông 1947, Đảng và Chính phủ ta chủ trương củng cố chính quyền dân chủ nhân dân từ trung ương đến cơ sở, tăng cường lực lượng vũ trang nhân dân, đẩy mạnh cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện trên tất cả các mặt: chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa – giáo dục.
Trên mặt trận chính trị, củng cố và kiện toàn các cấp, củng cố mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân là một trong những chủ trương quan trọng của Đảng và Nhà nước nhằm tăng cường sức mạnh, hiệu lực của nhân dân, thu hút ngày càng nhiều các thành phần cơ bản trong nhân dân lao đọng vào việc tham gia chính quyền các cấp, tăng cường khối đoàn kết toàn dân, kiên quyết đấu tranh chống âm mưu thành lập chính phủ bù nhìn Bảo Đại. Tiếp tục bầu cử các hội đồng nhân dân các cấp. Đầu 1949, Chính phủ quyết định tổ chức bầu cử Hội đồng nhân dân và Ủy ban kháng chiến hành chính các cấp. Tháng 6/1949, Mặt trận Việt Minh và Hội Liên Việt quyết định tiến tới thống nhất thành một tổ chức – Mặt trận Liên Việt. Coi trọng công tác vận động đồng bào các dân tộc thiểu số, đồng bào công giáo, vận động ngụy binh…
Trên mặt trận ngoại giao, chúng ta tăng cường khối đoàn kết trên bán đảo Đông Dương. Bắt đầu đặt quan hệ ngoại giao với nhiều nước trên thế giới. Ngày 18/1/1950, nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Trung Hoa đặt quan hệ ngoại giao với ta. Ngày 31/1/1950 Liên Xô đặt quan hệ ngoại giao với ta.
Trên mặt trận quân sự, trong những năm 1948 – 1949, bộ đội chủ lực phân tán, đi sâu vào vùng sau lưng địch, gây cơ sở kháng chiến, phát triển chiến tranh du kích. Bộ đội chủ lực phân tán thành đại đội độc lập đi vào vùng sau lưng địch kết hợp tác chiến với vận động nhân dân xây dựng, bảo vệ cơ sở kháng chiến về mọi mặt. Phát động phong trào “trừ gian diệt ác” vận động ngụy binh chống thu thuế, nộp thuế, đi phu, đi lính. Tích cực chống càn để bảo vệ làng xóm. Nhiều sáng kiến của quần chúng được phát huy như: đào hầm bí mật, đào giao thông hào, làm hầm chông, hay xây dựng làng chiến đấu… Những hoạt động này đã gâynhiều khó khăn cho Pháp, giam chân địch, tiêu hao sinh lực của địch, tạo điều kiện cho bộ đội chủ lực của ta có thời gian và cơ hội để rèn luyện.
Trên mặt trận kinh tế, dưới sự chỉ đạo của Đảng, nhân dân ta đã đấu tranh bảo vệ mùa mạng, kiểm soát chặt chẽ việc giao lưu hàng hóa giữa các vùng tự do và vùng tạm chiếm. Xây dựng nền kinh tế có đủ khả năng cung cấp cho nhu cầu của cuộc kháng chiến chống Pháp lâu dài. Tháng 3/1948 phát động phong trào thi đua cứu quốc. Tháng 7/1949 ra sắc lệnh giảm tô 25%, hoãn nợ, xóa nợ (5/1950), chia lại ruộng đất công và tạm cấp ruộng đất vắng chủ, ruộng đất lấy từ tay đế quốc, bọn phản động… Kết quả là diện tích và sản lượng nông nghiệp đều tăng. Các cơ sở công nghiệp được xây dựng ở quy mô vừa và nhỏ, đáp ứng cơ bản nhu cầu quốc phòng và sinh hoạt của nhân dân.
Trên mặt trận văn hóa – giáo dục, Chính phủ ta đã đề ra chủ trương xây dựng nền văn hóa giáo dục theo phương châm: dân tộc – kho học – đại chúng, để phục vụ cho nhu cầu kháng chiến và cho nhân dân. Phê phán văn hóa thực dân phong kiến và tư sản phản động. Năm 1948, Hội nghị văn hóa toàn quốc được triệu tập, tiếp tục đẩy mạnh nếp sống văn hóa mới. Về giáo dục, tiếp tục phong trào chống nạn mù chữ. Tháng 7/1950, Chính phủ đề ra chủ trương cải cách giáo dục phổ thông, đặt nền móng cho nền giáo dục dân tộc dân chủ Việt Nam (thay hệ thống giáo dục cũ bằn hệ thống giáo dục mới 9 năm). Hệ thống các trường đại học và trung học chuyên nghiệp cũng bắt đầu được xây dựng.
Về y tế, với phương châm phòng bệnh là chính, phát triển mạng lưới y tế, chăm lo sức khỏe cho nhân dân.
Vừa kháng chiến, vừa kiến quốc đã thúc đẩy cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp ngày càng phát triển mạnh mẽ. Với cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện, chúng ta đã chuẩn bị được những điều kiện cần thiết nhất để xây dựng nhà nước sau ngày kháng chiến thắng lợi.