QUÁ TRÌNH TÌM ĐƯỜNG CỨU
NƯỚC VÀ ĐẾN VỚI CHỦ NGHĨA
MÁC – LÊ NIN CỦA NGUYỄN
ÁI QUỐC
Nguyễn Ái Quốc sinh ngày 19/5/1890 ở Kim Liên-Nam Đàn-Nghệ
An. Người sinh ra và lớn lên trong hoàn cảnh đất nước bị thực dân Pháp xâm lược,
thống trị nhân dân trở thành nô lệ. Các cuộc vùng dậy đấu tranh của nhân dân đều
thất bại. Sự thất bại của các phong trào kháng Pháp chứng tỏ cách mạng nước ta
đang lâm vào tình trạng khủng hoảng sâu sắc về đường lối cách mạng, thiếu hẳn 1
phương pháp khoa học và 1 giai cấp tiên tiến lãnh đạo cứu nước. Giải phóng dân
tộc đã trở thành yêu cầu bức thiết nhất của toàn thể dân tộc Việt Nam. Tìm đường
cứu nước là con đường thời đại rất khó khăn, rút kinh nghiệm các vị tiền bối
như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh hướng con đường cứu nước về phía Nhật Bản đều
bị thất bại thì Người quyết định đi các nước Tây Âu với nhận thức rất đúng đắn
là muốn đánh đổ kẻ thù thì phải biết rõ kẻ thù đó. Người nói: “vào trạc 13 tuổi,
lần đầu tiên tôi nghe từ Pháp tự do, bình đẳng, bác ái. Thế là tôi muốn làm
quen với nền văn minh Pháp, tìm xem những gì ẩn dấu đằng sau những từ ấy”. Điều
này có tầm quan trọng rất lớn để Nguyễn Ái Quốc đến với chủ nghĩa Mác-Lênin sau
này.
Giữa năm 1911 (6/5/1911), người thanh niên trí thức Nguyễn Tất
Thành đang ở Sài Gòn lấy tên là Văn Ba xin làm phụ bếp cho 1 tàu buôn Pháp để
ra đi tìm đường cứu nước.
Từ năm 1911-1917, Người giành thời gian tự vô sản hóa mình,
biến mình thành công nhân. Qua những năm lăn lộn ở Anh, Pháp, Đức, CPhi, châu Mỹ,
Người thấy rõ giai cấp công nhân và nhân dân lao động các nước đều bị áp bức,
bóc lột, chủ nghĩa tư bản ở đâu cũng tàn ác, vô nhân đạo. Nhận thức thực tiễn
đó, cho Người 1 nhận thức quan trọng: Giai cấp công nhân lao động đều là bạn,
chủ nghĩa đế quốc ở đâu cũng là thù.
Năm 1917, Người trở về Pháp, nơi có phong trào công nhân
phát triển mạnh mẽ. Người tham gia vào phong trào công nhân, tham gia Đảng Xã hội
Pháp và lập hội những người Việt Nam yêu nước ở Pháp để tuyên truyền, động viên
Việt kiều ở Pháp. Giữa lúc đó cách mạng tháng 10 Nga thắng lợi như tiếng sớm thức
tỉnh giai cấp công nhân và nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức vùng dậy
đấu tranh cách mạng. Cách mạng tháng 10 Nga thắng lợi đã có ảnh hưởng quyết định
trong đời hoạt động của Người. Phấn khởi, tin tưởng Người quyết tâm đi theo con
đường vĩ đại đó.
Năm 1919, thay mặt hội những người yêu nước ở Pháp, Nguyễn
Ái Quốc gửi đến hội nghị Véc sai bản yêu sách nổi tiếng đòi quyền của các dân tộc
gồm 8 điểm: đòi quyền tự do dân chủ, quyền bình đẳng và quyền tự quyết dân tộc
Việt Nam. Bản yêu sách nói trên không được đế quốc chấp nhận song cũng là phát
pháo báo hiệu đầu tiên Người tấn công trực diện vào bọn trùm đế quốc. Từ đó,
Người rút ra bài học quan trọng là: sự nghiệp giải phóng dân tộc mình chủ yếu
phải do mình quyết định chứ không phải dựa vào bên ngoài. Người nói: Chỉ có giải
phóng giai cấp vô sản thì mới giải phóng được dân tộc. Cả 2 cuộc giải phóng này
chỉ có thể là sự nghiệp của chủ nghĩa cộng sản và cách mạng thế giới.
Tháng 7/1920, Nguyễn Ái Quốc đọc bản Luận cương về vấn đề
dân tộc và thuộc địa của Lênin. Người tìm thấy ở đó chân lý cách mạng thời đại,
tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn, con đường cách mạng vô sản. Người nói: Luận
cương của Lênin đã làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sang tỏ, tin tưởng biết
bao. Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi 1 mình trong buồng mà tôi nói to lên
như đang nói trước quần chúng đông đảo: “Hỡi đồng bào bị đọa đầy đau khổ, đây
là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta”. Từ đó,
Người hoàn toàn tin theo Lênin, đứng hẳn về Quốc tế thứ III, đánh dấu bước nhận
thức và chuyển biến tư tưởng quan trọng của Người.
Tháng 12/1920, tại Đai hội Xã hội Pháp họp ở Tua, Người bỏ
phiếu tán thành việc gia nhấp Quốc tế III, trở thành người chiến sĩ cộng sản và
là 1 trong những người thành lập Đảng Cộng sản Pháp. Sự kiện này vô cùng quan
trọng, nó đánh dấu bước ngoặt quyết định sự thay đổi về chất trong nhận thức tư
tưởng và lập trường chính trị của Người. từ người yêu nước chân chính, Người đã
trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên và cũng là người Việt Nam đầu tiên
tìm ra con đường cứu nước đúng đắn, con đường cách mạng vô sản, con đường giải
phóng theo học thuyết Mác - Lênin, con đường kết hợp giữa đấu tranh giai cấp với
đấu tranh dân tộc, kết hợp tinh thần yêu nước chân chính với cách mạng quốc tế
vô sản: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không còn con đường nào khác con
đường cách mạng vô sản”. Người đã giải quyết thành công cuộc khủng hoảng về đường
lối cho cách mạng Việt Nam dẫn tới bước ngoặt vĩ đại từ năm 1930 trở về sau.