PHONG TRÀO YÊU NƯỚC DÂN CHỦ CÔNG KHAI TỪ 1919 - 1926
Những năm sau chiến tranh thế giới thứ I, cùng với sự truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin và những tư tưởng chính trị của Nguyễn Ái Quốc về nước thì phong trào yêu nước dân chủ ở Việt Nam trong thời gian này cũng phát triển rất mạnh mẽ. Đây là cuộc vận động dân chủ rầm rộ nhất, sôi nổi nhất trước khi Đảng ra đời. Tất cả các lực lượng xã hội đều ra quân với nhiều hình thức đấu tranh phong phú. Giai cấp tư sản dân tộc và giai cấp tiểu tư sản cũng lần lượt đưa ra các khẩu hiệu đấu tranh của mình chống thực dân P theo khuynh hướng dân chủ tư sản
Phong trào yêu nước của tư sản dân tộc
Sau đại chiến, cũng phát triển mạnh mẽ giai cấp tư sản Việt Nam được hình thành sau chiến tranh thế giới I. Chủ yếu là giai cấp tư sản thương nghiệp muốm mở rộng kinh doanh phải lương nhờ vào nguồn hàng hóa, nguyên liệu … của các công ty tư bản Pháp nhưng lại bị các thế lực đó kìm hãm theo nhận xét của Nguyễn Ái Quốc: “Nền đô hộ Pháp sinh ra bọn này nhưng lại ko để cho họ phát triển. Vì vậy tầng lớp tư sản nhỏ bé bị ngạt thở trong phạm vi chật hẹp và phụ thuộc quan thầy ngoại quốc, cha đỡ đầu của họ đã giành cho họ…”. Ngoài chính sách kìm hãm cuả thực dân Pháp, giai cấp tư sản Việt Nam mới ra đời còn phải đối phó với sự cạnh tranh của ts mại bản Hoa kiều được chính quyền thực dân ưu đãi. Trong bối cảnh đó để chống lại sự chèn ép, kìm hãm của thực dân Pháp, tư sản Việt Nam đã tổ chức những phong trào như: chấn hưng nội hóa, trừ ngoại hóa với khẩu hiệu “Người An Nam không chịu gánh vàng đi đổ sông Ngô nữa”, “hãy lập của hàng, cửa hiệu của người An Nam”… Về thực chất cuộc tẩy chay này phản ánh sự xung đột quyền lợi giữa giai cấp tư sản Việt Nam mới nổi lên với thế lực tư bản nước ngoài. Năm 1923, cuộc đấu tranh mới của giai cấp tư sản lại nổ ra, lần này già dặn hơn lần trước. Họ đấu tranh chống độc quyền thương cảng Sài Gòn, chống độc quyền xuất khẩu lúa gạo ở Nam Kỳ… Như vậy, cuộc đấu tranh này tuy vẫn phản ánh quyền lợi của giai cấp tư sản nhưng lại được tô điểm bằng màu sắc dân tộc nên đã lôi cuốn được đông đảo quần chúng nhân dân tham gia.
Cùng với những hoạt động về kinh tế, giai cấp tư sản cũng đã dùng báo chí để bênh vực quyền lợi cho mình. Một số tư sản địa chủ lớn trong nam đã tổ chức Đảng Lập Hiến do Bùi Quang Chiêu đứng đầu để tập hợp lực lượng rồi đưa ra 1 số khẩu hiệu đòi tự do dân chủ nhằm tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của quần chúng nhân dân những khi thực dân Pháp nhượng bộ cho 1 số quyền lợi thì họ sẵn sang thỏa hiệp với Pháp.
Nhìn chung, phong trào yêu nước do tư sản lãnh đạo đã diễn ra khá sôi nổi nhưng mang tính chất cải lương giới hạn trong khuôn khổ của chế độ thực dân. Vì thế, trong các cuộc đấu tranh khi thực dân Pháp nhượng bộ cho 1 số quyền lợi thì giai cấp tư sản dễ dàng thỏa hiệp với bọn thực dân. Chính điều này đã làm cho phong trào này nhanh chóng bị phong trào quần chúng vượt qua.
Phong trào yêu nước dân chủ của giai cấp tiểu tư sản:
Cùng với phong trào yêu nước dân chủ của tư sản dân tộc, phong trào yêu nước dân chủ của tiểu tư sản cũng phát triển rầm rộ cả ở trong và ngoài nước:
Hoạt động ở ngoài nước:
Tại Pháp: Ngoài các hoạt động của Nguyễn Ái Quốc còn có các hoạt động của nhóm các người yêu nước Việt Nam. Đứng đầu là Phan Văn Trường, Phan Châu Trinh với việc thành lập hội “Những người VN yêu nước”. Sau đó, mở cuộc vận động cho binh lính Việt Nam hồi hương và tố cáo vua Khải Định khi sang Pháp năm 1922 đã gây tiếng vang lớn.
Tại Trung Quốc: có các hoạt động tuyên truyền yêu nước của Phan Bội Châu và các nhà yêu nước khác như lê Hồng Sơn, Hồ Tùng Mậu, Phạm Hồng Thái. Năm 1923, họ thành lập nhóm Tâm tâm xã (6/1924), họ tổ chức mưu sát toàn quyền Đông Dương Méc - lanh tuy không thành công nhưng đã gây tiếng vang lớn có ảnh hưởng đến cuộc đấu tranh dân tộc ở trong nước.
Hoạt động ở trong nước
Mở đầu là những cuộc đấu tranh trên mặt trận báo chí. Ở miền Nam, những người yêu nước đã lợi dụng quyền tự do ngôn luận để đấu tranh trên báo chí như tờ báo Tiếng chuông Rè (Nguyễn An Ninh), Đông Pháp thời báo của Trần Huy Liệu, An Nam trẻ của Lâm Chấn Hiệp… Phong trào báo chí đã lôi kéo được cả một số người Pháp tiến bộ tham gia. Ở ngoài Bắc, có tờ Hữu Thanh của ông nghè Ngô Đức Kế và Tản Đà. Từ phong trào báo chí, những người tiến bộ đã lập ra những nhà xuất bản tiến bộ như Cường Học thư xã, Nam Đồng thư xã, Giác Quần thư xã, Tân Cường thư xã. Các thư xã này đã xuất bản hàng loạt cuốn sách tuyên truyền cho Chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn, cổ động tinh thần yêu nước đòi quyền tự do dân chủ và trong 1 chừng mực nhất định cũng xuất bản những tác phẩm của chủ nghĩa Mác - Lênin. Vì vậy, phong trào này không những đã khơi dậy được tinh thần yêu nước của nhân dân ta mà còn góp phần vào việc tuyên truyền cho chủ nghĩa Mác-lênin làm cho nhân dân ta bước đầu hiểu về chủ nghĩa Mác - Lênin.
Tiểu tư sản còn được tập hợp trong các tổ chức chính trị như: Việt Nam nghĩa đoàn, hội Phục Việt, hội Hưng Nam, Thanh niên cao vọng,… và đã có nhiều hoạt động sôi nổi như mít tinh, biểu tình, bãi thị, bãi khóa. Song tất cả các tổ chức đều chưa có 1 đường lối chính trị rõ ràng và 1 hệ thống tổ chức chặt chẽ, hoạt động thì rời rạc. Vì thế, không có 1 tổ chức nào có thể đóng được vai trò lãnh đạo, không có khả năng tập hợp đông đảo các tầng lớp nhân dân trong cuộc đấu tranh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc.
Phong trào yêu nước dân chủ của tiểu tư sản đang phát triển rầm rộ thì tháng 6/1924 tiếng bom Sa Diện của Phạm Hồng Thái nổ ra giữa lúc phong trào cách mạng ở trong nước đang trên đà phát triển.Tuy không giết được tên toàn quyền Méc - lanh nhưng đã làm cho thực dân Pháp vô cùng hoảng sợ đồng thời nó có tác dụng nhóm lại ngọn lửa chiến đấu, thức tỉnh lòng yêu nước của các tầng lớp đồng bào. Họ không phải là sự kết thúc mà là báo hiệu 1 thời đại đấu tranh mới của dân tộc như chim én nhỏ báo mùa xuân.
Trong cuộc đấu tranh tiêu biểu nhất là cuộc đấu tranh phản đối bản án cụ Phan Bội Châu và để tang Phan Chu Trinh. Cuộc đấu tranh phản đối bản án cụ Phan Bội Châu, 1 sĩ phu yêu nước có ảnh hưởng sâu sắc đến nhân dân ta đầu thế kỷ XX. Cụ Phan Bội Châu bị thực dân Pháp bắt cóc ở Thượng Hải (6/1925) đưa về giam ở nhà lao Hỏa Lò (Hà Nội) và định bí mật thủ tiêu cụ. Tin đó vận bị lọt ra ngoài đã gây xôn xao trong dư luận. Những người yêu nước đã lợi dụng báo chí để đấu tranh và đã được quần chúng hưởng ứng mạnh mẽ. Phong trào đấu tranh kéo dài từ tháng 11-12/1925 trước sự đấu tranh mạnh mẽ đó buộc tổng thống Pháp phải ký lệch tha bổng cụ Phan Bội Châu với điều kiện an trí ở Huế (từ tử hình xuống chung thân rồi tha bổng cụ). Phong trào này tuy không có sự lãnh đạo thống nhất song lại có sự phối hợp rất ăn ý từ Nam đến Bắc. Thất bại của thực dân Pháp trong âm mưu ám sát nhà yêu nước lão thành Phan Bội Châu đánh dấu 1 tháng lợi mới của phpng trào yêu nước dân chủ ở Việt Nam.
Cuộc đấu tranh để tang cụ Phan Châu Trinh cũng phát triển khá rầm rộ. Cụ Phan Châu Trinh là 1 nhà yêu nước với tư tưởng mở mang dân chí, khôi phục dân quyền, chấn hưng dân tộc. Thực dân Pháp muốn lợi dụng uy tín của ông để tuyên truyền cho tư tưởng “Pháp - Việt đề huề” nhưng ông đã bị bệnh và chết đột ngột vào tháng 3/1926. Nhân cơ hội này cả nước dấy lên Phong trào đấu tranh mới ở Sài Gòn. Các tầng lớp tham gia đám tang ông lên tới 14 vạn người. Như vậy, Phong trào đòi thả cụ PBC và để tang cụ Phan Châu Trinh thực tế đã trở thành những cuộc biểu dương lực lượng hung hậu, thức tỉnh lòng yêu nước và nguyện vọng giải phóng của toàn dân. Chính từ trong phong trào yêu nước, nhiều thanh niên, trí thức về sau đã trở thành những chiến sĩ ưu tú trong các tổ chức cách mạng ra đời vào nửa sau những năm 20. Ngoài 2 cuộc đấu tranh tiêu biểu trên còn có các cuộc đấu tranh như đòi thả Nguyễn An Ninh, đón Bùi Quang Chiêu.
Trong phong trào yêu nước dân chủ của những năm 1925 - 1928 đã ra đời Việt Nam quốc dân đảng vào ngày 25/12/1927. Đây là 1 Đảng cách mạng theo khuynh hướng dân chủ tư sản đại diện cho quyền lợi của tư sản dân tộc và tiểu tư sản lớp trên. Bộ phận hạt nhân đầu tiên của Việt Nam Quốc Dân Đảng là Nam Đồng thư xã. Đây là 1 nhà xuất bản tiến bộ do Phạm Tuấn Tài sáng lập vào đầu năm 1927 nhằm tuyên truyền tư tưởng yêu nước. Dần dần nơi đây đã thu hút và tụ họp của 1 số tri thức thanh niên, sinh viên yêu nước hồi đó trong đó có Nguyễn Thái Học, Phó Đức Chính… Đảng viên của Đảng bao gồm học sinh, sinh viên, công chức, tư sản lớp dưới, những người làm nghề tự do, 1 số nông dân khá giả, thân hào địa chủ ở nông thôn và binh lính người Việt trong quân đội Pháp. Nền tảng tư tưởng chính trị của Đảng là chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn, 1 trào lưu tư tưởng tư sản ở Trung Quốc, cương lĩnh cách mạng đề ra chung chung, rất mơ hồ, thiếu cơ sở giai cấp xã hội là đánh đuổi giặc Pháp, đánh đổ ngôi vua, thiết lập dân quyền. Việt Nam quốc dân Đảng có 4 cấp: tổng bộ, kỳ bộ, tỉnh bộ, chi bộ nhưng chưa bao giờ trở thành hệ thống trong cả nước, ít có cơ sở trong quần chúng nên chỉ hoạt động được ở 1 địa phương nhỏ không phát triển thành 1 phong trào rộng lớn.
Trong công tác tuyên truyền giáo dục của Việt Nam quốc dân Đảng càng non yếu. Ngoài chương trình điều lệ cùng 1 số văn thơ khêu gợi tinh thần yêu nước, Việt Nam quốc dân Đảng không có 1 chương trình huấn luyện nào để đào tạo cán bộ, giác ngộ Đảng viên. Tờ báo bí mật Hồn cách mạng là cơ quan tổng bộ Việt Nam quốc dân Đảng cho đến trước ngày Đảng này bị lộ cũng chỉ mới đưa ra được 1 số hình thức rất thô sơ.
Cuộc khởi nghĩa Yên Bái của Việt Nam quốc dân đảng nổ ra vào ngày 9/2/1930. Kế hoạch dự định mở 1 cuộc tổng công kích tại nhiều nơi cùng 1 lúc. Xứ Nhu phụ trách đánh Yên Bái, Phú Thọ. Phó Đức Chính đánh Sơn Tây. Nguyễn Thái Học đánh Hải Dương, Hải Phòng, Thái Bình. Do hành động trong tình hình bị động, mệnh lệch lại không thống nhất, việc chuẩn bị thì vội vã nên các nơi nổ ra không đồng đều, rời rạc. Chính vì vậy, cuộc khởi nghĩa nhanh chóng bị thất bại song nó đã cổ vũ lòng yêu nước của nhân dân ta đồng thời nó cũng biểu lộ tính chất non yếu, không vững chắc của phong trào yêu nước dân chủ của tư sản và tiểu tư sản Việt Nam. Vì thiếu 1 lý luận cách mạng tiên tiến làm cơ sở cho đường lối và phương pháp cách mạng đúng đắn lại không có chỗ dựa vững chắc trong quần chúng công - nông cho nên Việt Nam quốc dân Đảng thiên về manh động và khủng bố cá nhân. Tuy nhiên, do giai cấp tư sản Việt Nam vốn rất nhỏ yếu đặc biệt là không có cơ sở trong quần chúng nhân dân lao động. Một số những người tiến bộ ở thành thị thì ngày càng hoạt động theo con đường Cm vô sản dưới ảnh hưởng của Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội. Mặt khác lại ra đời trong lúc cuộc cách mạng dân tộc dân chủ theo chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn ở Trung Quốc đã thất bại và phong trào giải phóng dân tộc ở Việt Nam theo xu thế chung của thời đại mới đã vượt qua giai đoạn cách mạng dân chủ tư sản kiểu cũ bước sang giai đoạn cách mạng dân chủ tư sản kiểu mới nên Việt Nam quốc dân Đảng không thể tạo ra cho mình 1 lực lượng hùng hậu được. Hơn nữa lý thyết của Việt Nam quốc dân Đảng thì mơ hồ, nặng về sao chép và luôn luôn thay đổi, làm Đảng bí mật mà tổ chức không khoa học, lỏng lẻo, kết nạp ồ ạt, bừa bãi, thiếu 2 giai cấp cơ bản là nông dân và công dân, huấn luyện thì sơ sài. Vì thế, bon cơ hội mật thám Pháp chui vào được vào tổ chức đã theo dõi được hoạt động của Đảng chờ cho bộc lộ lực lượng sẽ ra tay đàn áp.
Do bị khủng bố đàn áp đã làm cho Đảng lâm vào tình thế bị động. Đầu năm 1930, do địch khủng bố cơ sở của Việt Nam quốc dân Đảng bị tan vỡ nhiều. Trước tình hình đó để cứu vãn sự tan rã hoàn toàn. Việt Nam Quốc dân Đảng đã tổ chức cuộc khởi nghĩa Yên Bái (2/1930) nhưng cuộc khởi nghĩa Yên Bái đã bị thất bại nhanh chóng. Sau khi khởi nghĩa này thất bại hầu hết các chiến sĩ của quốc dân đảng bị Pháp bắt. Việt Nam quốc dân Đảng về cơ bản đã tan vỡ.
Nhận xét chung
Phong trào yêu nước dân chủ sau đại chiến có vị trí quan trọng đối với việc thành lập Đảng ta. Qua phong trào, những thanh niên sôi nổi nhiệt tình để tự “lột xác mình” để đến với chủ nghĩa Mác - Lênin. Mặt khác, phong trào này đã nảy sinh nhiều tổ chức chính trị chỉ trừ một bộ phận nhỏ đi theo khuynh hướng cách mạng tư sản còn đại đa số sau này chuyển theo hướng cách mạng vô sản như Đảng Tân Việt. Đặc biệt với sự thất bại của cuộc khởi nghĩa Yên Bái kéo theo sự tan rã của Việt Nam Quốc dân Đảng. Nó đã đánh dấu sự phá sản hoàn toàn của đường lối chính trị tư sản. Đúng như đồng chí Lê Duẩn nhận xét: Trong thời gian từ năm 1925 - 1930, phong trào dân tộc tư sản và phong trào dân tộc vô sản chen nhau mà tiến lên, Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội cũng như Việt Nam Quốc dân Đảng đều đứng trước những thử thách lớn lao của nhiệm vụ cứu nước nhưng trong thực tế hoạt động của 2 tổ chức đã được kiểm nghiệm bằng thực tế, sự tồn tại ngắn ngủi và tan ra nhanh chóng của Việt Nam Quốc dân Đảng đã chứng tỏ rằng: Về mặt chính trị, con đường cách mạng tư sản của giai cấp tư sản Việt Nam đã hoàn toàn bất lực trước các nhiệm vụ cứu nước. Nếu thất bại của Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh là thất bại hiệp đầu thì thất bại của Việt Nam Quốc dân Đảng là thất bại hiệp chót của khuynh hướng tư sản dân tộc ở nước ta. Vì phong trào dân tộc dân chủ theo khuynh hướng tư sản dưới ngọn cờ của Việt Nam Quốc dân Đảng đã không đáp ứng được yêu cầu khách quan của sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân ta, không đủ sức vượt quan sự đàn áp, khủng bố của kẻ thù để tồn tại nên từ sau cuộc khởi nghĩa Yên Bái, ngọn cờ phản đế, phản phong, ngọn cờ giải phóng dân tộc hoàn toàn thuộc về giai cấp vô sản Việt Nam. Vì thế, phong trào yêu nước dân chủ có ý nghĩa rất to lớn, nó là cơ sở để chủ nghĩa Mác - Lênin được truyền bá vào Việt Nam 1 cách sâu rộng là nền tảng vững chắc, hỗ trợ cho phong trào công nhân phát triển. Với ý nghĩa đó, phong trào yêu nước dân chủ là 1 yếu tố về chất dẫn đến sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam sau này.