Chính
sách khai thác thuộc địa sau chiến tranh đã đưa xã hội Việt Nam từ một xã hội
phong kiến trong đó dựa trên nền tảng của 1 nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu
kiểu trung cổ đã dần mọc lên một cơ cấu kinh tế công-thương nghiệp kiểu tư bản
chủ nghĩa nhưng phát triển một cách yếu ớt què quặt dưới sự chi phối trực tiếp
và khống chế của tư bản Pháp trên cơ sở đó về măt chính trị - xã hội làm cho sự phân hóa giai cấp ở Việt Nam thêm
nhanh chóng và sâu sắc hơn. Mỗi giai cấp, mỗi tầng lớp xã hội có địa vị,
quyền lợi khác nhau nên có thái độ chính trị khác nhau, biểu hiện sự phân hóa
đó là:
Giai cấp địa chủ phong kiến bao gồm bộ
máy vua quan bù nhìn từ trung ương đến địa phương và bọn địa chủ cường hào ở
các thôn xã sau chiến tranh giai cấp địa chủ phong kiến đã tăng thêm về số
lượng và thế lực cùng mới sự mở rộng khai thác của pháp được mặc sức cướp đoạt
ruộng đất của nông dân, tăng cường đàn áp về chính trị đối với nông dân, giai
cấp địa chủ phong kiến chỉ chiếm 9% dân số cả nước những có 50% ruộng đất. Một
số địa chủ lớn hùn vốn với tư bản Pháp để kinh doanh đồn điền, hầm mỏ trở thành
địa chủ kiêm tư sản vì quyền lợi ích kỷ của mình, giai cấp địa chủ phong kiến
đã phản bội lại quyền lợi dân tộc cấu kết chặt chẽ với đế quốc. Do đó, có thái
độ chính trị là phản động, là đối tượng cách mạng cần đánh đổ. Tuy nhiên, ở
nước ta có một bộ phận địa chủ vừa và nhỏ ít nhiều có tinh thần yêu nước. Với
bộ phận này có thể đoàn kết họ vào lực lượng cách mạng.
Giai cấp nông dân chiếm 90% dân số cả
nước nhưng chỉ có 1/3 diện tích canh tác. Họ là nạn nhân chủ yếu của cuộc khai
thác thuộc địa, họ bị sưu cao, thuế nặng, phu phen tạp dịch, thiên tai lại xảy
ra liên tiếp nên học bị bần cùng hóa, phá sản trên quy mô lớn. Vì vậy, nhiều
người phải bỏ làng ra đi để trở thành nguồn nhân công rẻ mạt cung cấp cho các
công trình khai thác của thực dân pháp còn đại đa số bị đẩy vào tình trạng bế
tắc sống trong điêu đứng khổ cực. Do đó, nông dân Việt Nam vốn là đội quân chủ
lực trong tất cả các cuộc chiến tranh bảo vệ tổ quốc. Họ có tinh thần yêu nước
cao, tha thiết với độc lập dân tộc và người cày có ruộng thì đến nay họ là lực
lượng hăng hái, đông đảo nhất của cách mạng. Nhưng giai cấp nông dân không bao
giờ là giai cấp lãnh đạo cách mạng. Vì giai cấp nông dân chưa bao giờ là 1 giai
cấp chủ thể ở một xã hội không phải là giai cấp đại diện cho phương thức sản
xuất tiến bộ.
Giai cấp công nhân ra đời sớm, sớm hơn
tư sản Việt Nam từ cuộc khai thuộc địa lần 1 phát triển nhanh chóng trong cuộc
khai thác thuộc địa lần 2 cả về số lượng và chất lượng (từ 10 vạn lên tới 22
vạn). Mặc dù ra đời và phát triển trong xã hội thuộc địa nửa phong kiến nên
ngoài những đặc điểm của giai cấp công nhân quốc tế như đại diện cho phương
thức sản xuất tiến bộ nhất, có ý thức tổ chức kỷ luật cao, có tinh thần cách
mạng triệt để… thì giai cấp công nhân Việt Nam lại có những đặc điểm riêng như
chịu 3 tầng áp bức bóc lột nặng nề (đế quốc, phong kiến, tư bản bản xứ), xuất
thân từ giai cấp nông dân lại sinh ra trong 1 dân tộc có truyền thống đấu tranh
anh hùng bất khuất và hiện đang có:
Phong
trào dân tộc dân chủ mạnh mẽ, nội bộ giai cấp lại thuần nhất, thống nhất nên
không bị chủ nghĩa cơ hội lũng đoạn. Mặt khác, vừa ra đời giai cấp công nhân
Việt Nam lại tiếp thu ngay những tư tưởng cách mạng Tháng 10 và chủ nghĩa Mác-Lênin.
Vì vậy, giai cấp công nhân Việt Nam tuy tuổi đời còn trẻ, số lượng không nhiều
nhưng với đặc điểm trên khiến giai cấp công nhân Việt Nam có đầy đủ điều kiện
trở thành lực lượng lãnh đạo phong trào cách mạng ở Việt Nam.
Giai cấp Tư Sản: trước Chiến tranh thế
giới I nước ta chỉ có 1 số nhà giàu kinh doanh theo lối tư bản chủ nghĩa mà
chưa có giai cấp tư sản. sau Chiến tranh
I gắn liền với chương trình khai thác thuộc địa lần 2, giai cấp tư sản Việt
Nam ra đời họ nguyên là những tiểu chủ đứng trung gian làm hầu khoán hoặc làm
đại lý hàng hóa khi có vốn lớn họ đứng ra kinh doanh riêng và trở thành những
nhà tư sản như Bạch Thái Bưởi, Nguyễn Hữu Thu…Bộ phận tư sản này phát triển đến
một mức độ nào đó thì phân hóa làm 2 bộ phận tư sản mại bản và tư sản dân tộc.
Tư sản mại bản dựa hẳn vào đế quốc Pháp để kinh doanh làm giàu nên có quyền
lợi gắn chặt với Pháp, cấu kết chặt chẽ với chúng cả về kinh tế và chính trị.
Vì vậy, thái độ của họ là phản động tầng lớp này là đối tượng cách mạng cần
đánh đổ. Tư sản dân tộc vừa ra đời đã bị đế quốc Pháp nên số lượng ít, thế lực
kinh tế nhỏ bé, họ có khuynh hướng kinh doanh độc lập, bán hàng nội hóa, ít
nhiều có tinh thần dân tộc dân chủ chống đế quốc và phong kiến do đó tầng lớp
này là lực lượng cách mạng. Tuy nhiên do vị trí yếu ớt về kinh tế và chính
trị nên họ có thái độ không kiên định, dễ thỏa hiệp khi đế quốc mạnh.
Giai cấp tiểu tư sản (TTS): bao gồm
nhiều tầng lớp học sinh, sinh viên công chức, tiểu thương … Sau chiến tranh do
sự phát triển nhanh chóng của các ngành kinh tế, sự mở rộng của các cơ quan
hành chính văn hóa – giáo dục, nên đội
ngũ TTS tăng nhanh. Trên cơ sở đó giai cấp TTS ra đời. Họ có tinh thần yêu nước
cao thường sống tập trung ở các thành thị, nhạy bén với thời cuộc nhất là tầng
lớp trí thức, học sinh. Họ đều bị đé quốc phong kiến áp bức, bạc đãi, khinh rẻ.
Đời sống bấp bênh dễ bị phá sản, thất nghiệp nên họ có tinh thần cách mạng hăng
hái và lực lượng cách mạng quan trọng song do địa vị kinh tế - xã hội của họ
nên họ có thái độ bấp bênh, giao động.
Như
vậy, do ảnh hưởng của tình hình thế giới đặc biệt là tác động của cuộc khai
thác thuộc địa lần 2, xã hội Việt Nam có nhiều chuyển biến quan trọng mạnh mẽ,
sâu sắc. Các lực lượng mới bên trong thực sự đã hình thành đó chính là sự lớn
mạnh của giai cấp công nhân, sự xuất hiện của giai cấp Tư sản và giai cấp TTS
cùng với tiếng súng của Cách mạng tháng 10 Nga, các lực lượng mới bên trong
chính là những điều kiện vật chất đầy đủ nhất, cao nhất cho cuộc vận động giải
phóng dân tộc nói chung và cho việc thành lập Đảng nói riêng.