Trong
lúc chủ nghĩa Mác-Lênin chưa có điều kiện truyền bá vào nước ta thì tư tưởng
dân chủ tư sản của Nhật, Trung Quốc và cách mạng Pháp (đặc biệt là chủ nghĩa
Tam dân của Tôn Trung Sơn tiếp tục tràn vào Việt Nam) chi phối phong trào đấu
tranh theo khuynh hướng dân chủ tư sản ở nước ta.
Sau chiến
tranh thế giới thứ nhất, do ảnh hưởng của chính sách nới lỏng của Pháp mà tư sản và tiểu tư sản Việt Nam có điều kiện vươn
lên dần dần trở thành 1 giai cấp trong xã hội. Do họ bị chèn ép về kinh tế, bị
bạc đãi, khinh rẻ của thực dân Pháp. Cho nên, 2 giai cấp này đã đứng lên đấu
tranh chống để quốc và chống phong kiến. Cùng với các giai cấp khác trong xã hội,
do có địa vị, quyền lợi khác nhau nên hai giai cấp này cũng có thái độ chính trị
khác nhau, biểu hiện của nó là:
Giai cấp Tư sản: trước
Chiến tranh thế giới I nước ta chỉ có 1 số nhà giàu kinh doanh theo lối tư bản
mà chưa có giai cấp tư sản sau Chiến tranh thế giới I gắn liền với chương trình
khai thác thuộc địa lần 2, giai cấp tư sản Việt Nam ra đời họ nguyên là những
tiểu chủ đứng trung gian làm hầu khoán hoặc làm đại lý hàng hóa khi có vốn lớn
họ đứng ra kinh doanh riêng và trở thành những nhà tư sản như Bạch Thái Bưởi,
Nguyễn Hữu Thu…Bộ phận tư sản này phát triển đến một mức độ nào đó thì phân hóa
làm 2 bộ phận tư sản mại bản và tư sản dân tộc. Tư sản mại bản dựa hẳn vào đế
quốc Pháp để kinh doanh làm giàu nên có quyền lợi gắn chặt với Pháp, cấu kết chặt
chẽ với chúng cả về kinh tế và chính trị. Vì vậy thái độ của họ là phản động tầng
lớp này là đối tượng cách mạng cần đánh đổ. TS dân tộc vừa ra đời đã bị đế quốc
Pháp nên số lượng ít, thế lực kinh tế nhỏ bé, họ có khuynh hướng kinh doanh độc
lập, bán hàng nội hóa, ít nhiều có tinh thần dân tộc dân chủ chống đế quốc và
phong kiến do đó tầng lớp này là lực lượng cách mạng. Tuy nhiên, do vị trí yếu
ớt về kinh tế và chính trị nên họ có thái độ không kiên định, dễ thỏa hiệp
khi đế quốc mạnh.
Giai cấp Tiểu tư sản: bao gồm
nhiều tầng lớp học sinh, sinh viên công chức, tiểu thương …Sau chiến tranh do sự
phát triển nhanh chóng của các ngành kinh tế, sự mở rộng của các cơ quan hành
chính văn hóa - giáo dục nên đội ngũ TTS tăng nhanh. Trên cơ sở đó giai cấp
TTS ra đời. Họ có tinh thần yêu nước cao thường sống tập trung ở các thành thị,
nhạy bén với thời cuộc nhất là tầng lớp trí thức, học sinh. Họ đều bị đé quốc
phong kiến áp bức, bạc đãi, khinh rẻ. Đời sống bấp bênh dễ bị phá sản, thất
nghiệp nên họ có tinh thần cách mạng hăng hái và lực lượng cách mạng quan trọng
song do địa vị kinh tế - xã hội của họ nên họ có thái độ bấp bênh, giao động.
Như vậy,
do ảnh hưởng của tình hình thế giới, đặc biệt là tác động của cuộc khai thác
thuộc địa lần 2, xã hội Việt Nam có nhiều chuyển biến quan trọng mạnh mẽ,
sâu sắc. Các lực lượng mới bên trong thực sự đã hình thành đó chính là sự lớn mạnh
của gc công nhân, sự xuất hiện của giai cấp TS và giai cấp TTS cùng với tiếng
súng của cách mạng tháng Mười Nga, các lực lượng mới bên trong chính là những
điều kiện vật chất đầy đủ nhất, cao nhất cho cuộc vận động giải phóng dân tộc
nói chung và cho việc thành lập Đảng nói riêng.