QUÁ
TRÌNH GIAI CẤP CÔNG NHÂN VIỆT NAM VƯƠN LÊN TỪ TỰ PHÁT ĐẾN TỰ
GIÁC
Do ảnh
hưởng của cách mạng tháng Mười Nga, của cuộc khai thác thuộc địa lần thứ 2,
của phong trào yêu nước dân chủ đã đẩy nhanh quá trình thành thục về chính trị
cho giai cấp công nhân Việt Nam. Bên cạnh đó, chủ nghĩa Mác - Lênin đã được
truyền bá vào phong trào công nhân tạo ra bước nhảy vọt cho phong trào vào đầu
năm 1930 sau này.
Giai cấp
công nhân Việt Nam ra đời trong quá trình khai thác, bóc lột thuộc địa của đế
quốc Pháp vào khoảng đầu thế kỷ XX, khi thực dân Pháp thực hiện chương trình
khai thác lần 1. Trước chiến tranh, số lượng công nhân tập trung ở các xí nghiệp,
hầm mỏ có khoảng 5 vạn người. Trong chiến tranh số này số lượng tăng lên 10 vạn
người. Sau chiến tranh, với việc tăng cường đầu tư bóc lột nguồn nhân công rẻ mạt
tại chỗ. Với việc đẩy mạnh cướp đoạt ruộng đất, hầm mỏ và mở rộng các ngành
kinh doanh của tư bản Pháp, số lượng công tăng vượt bậc khoảng 22 vạn người. Ra
đời và phát triển trong lòng xã hội thuộc địa, giai cấp công nhân Việt Nam bị
bóc lột, áp bức nặng nề như cúp phát, cắt xén tiền lương, đánh đập giam cầm,
tra tấn trong các nhà tù riêng của bọn
chủ tư bản Pháp. Cho nên, giai cấp công nhân Việt Nam mang đầy đủ đặc điểm của
giai cấp công nhân quốc tế như đại diện cho 1 phương thức sản xuất tiến bộ, có
tinh thần cách mạng triệt để, điều kiện sống tập trung.
Đồng thời,
giai cấp công nhân Việt Nam có những đặc điểm riêng: Chịu 3 tầng áp bức bóc lột
nặng nề (đế quốc, phong kiến, tư sản mại bản), xuất thân từ giai cấp nông dân lại
sinh ra trong 1 dân tộc có truyền thống đấu tranh anh hùng bất khuất và hiện
đang có 1 phong trào dân tộc dân chủ mạnh mẽ, nội bộ lại thống nhất, thuần nhất
lại không bị chủ nghĩa cơ hội lũng đoạn. Mặt khác, vừa ra đời giai cấp công
nhân Việt Nam lại tiếp thu ngay những tư tưởng của cách mạng tháng Mười Nga
và chủ nghĩa Mác - Lênin.
Do vậy,
giai cấp công nhân Việt Nam tuy tuổi đời còn trẻ, số lượng không nhiều nhưng với
những đặc điểm trên khiến cho giai cấp công nhân Việt Nam có đủ điều kiện để
lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Ngay từ khi ra đời, công nhân đã tham gia vào
nhiều cuộc đấu tranh của phong trào yêu nước như tham gia vào vụ đầu độc trại
lính Pháp ở Hà Nội, khởi nghĩa Thái Nguyên, phong trào Duy Tân…
Ngoài
ra, công nhân cũng có những hình thức đấu tranh riêng của mình như phá giao
kèo, bỏ việc làm, chống bọn chủ cai thầu, bãi công. Sau chiến tranh thế giới thứ
1 và nhất là từ sau cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp để bù đắp lại
những thiện hại do chiến tranh ở chính quốc gây ra, giai cấp công nhân phát triển
nhanh chóng do bị 3 tầng áp bức, bóc lột nặng nề, lại xuất thân từ giai cấp
nông dân nên từ năm 1919, giai cấp công nhân Việt Nam bắt đầu tỏ rõ 1 sức mạnh
đấu tranh. Mặc dù, sự đấu tranh đó mới chỉ trên ý thức tự phát. Họ đấu tranh chủ
yếu để đòi quyền lợi cho chính bản thân họ đó là quyền lợi về vật chất (kinh
tế).
Từ 1919
- 1925, có 25 cuộc bãi công nổ ra khắp nơi trong cả nước. Mở đầu là cuộc bãi
công của công nhân thủ thủy Hải Phòng đòi phụ cấp đắt đỏ do giá sinh hoạt lên
cao ở các thành phố lớn. Trong thời gian này cùng với sự phát triển về số lượng
công nhân Việt Nam cũng bắt đầu đi vào tổ chức, công nhân Sài Gòn - Chợ Lớn
thành lập công hội do Tôn Đức Thắng đứng đầu. Công nhân Việt Nam ở nước ngoài
ra nhập nghiệp đoàn, công hội ở Pháp, ở Quảng Châu, Thượng Hải… Các cuộc đấu
tranh của công nhân thủy thủ Pháp cũng như công nhân thủy thủ Trung Quốc tại
các cảng lớn ở Trung Quốc dội về và ảnh hưởng của cách mạng tháng Mười Nga
đã bắt đầu có tiếng vang đến Việt Nam góp phần cổ vũ, động viên, khích lệ công
nhân Việt Nam hăng hái đấu tranh. Năm 1922, công nhân viên chức các sở công
thương tư nhân Bắc Kỳ đòi nghỉ ngày chủ nhật có hưởng lương. Ngoài ra còn có cuộc
bãi công của thợ nhuộm Chợ Lớn. năm 1924, bãi công diễn ra ở nhiều nơi trong
các nhà máy dệt, rượu, xay sát giao ở Nam Định, Hà Nội, Hải Dương… Họ đòi
tăng lương giảm giờ làm, chống đánh đập, chống cúp phạt, đòi nghỉ ngày chủ nhật
có hưởng lương…Năm 1925, bãi công diễn ra ở nhiều nơi hơn nhưng quan trọng nhất
là cuộc bãi công của công nhân thợ máy Ba Son ở cảng Sài Gòn nhằm ngăn chạn tàu
Pháp trở lính đi đàn áp cách mạng Trung Quốc và các thuộc địa ở Bắc Phi.
Như vậy,
các cuộc đấu tranh của công nhân từ năm 1919 - 1925 diễn ra tuy còn ít nhưng đã
diễn ra lẻ tẻ trong toàn quốc. Các cuộc đấu tranh của công nhân ở giai đoạn này
còn phụ thuộc vào phong yêu nước song dần dần đã xuất hiện các cuộc đấu tranh
riêng lẻ và bước đầu đã có lãnh đạo, có tổ chức như ở Ba Son. Tốc độ bãi công
ngày càng tăng với quy mô ngày càng lớn nhưng nhìn chung các cuộc đấu tranh ở
giai đoạn này còn mang tính chất tự phát chủ yếu là đấu tranh kinh chưa có sự
phối hợp hành động, chưa tỏ rõ được là 1 lực lượng chính trị độc lập. Tuy
nhiên, do kẻ thù của giai cấp công nhân đồng thời là kẻ thù của dân tộc Việt
Nam nên phong trào công nhân có những khả năng rút ngắn quá trình phát triển từ
tự phát lên tự giác. Vì vậy, các cuộc đấu tranh ở cuối giai đoạn nhất là cuộc đấu
tranh của công nhân Ba Son đã chứng tỏ rằng: Tư tưởng của cách mạng tháng
Mười Nga và chủ nghĩa Mác - Lênin đã thấm sâu hơn 1 bước vào giai cấp công
nhân Việt Nam, làm cho giai cấp công nhân Việt Nam ý thức được sức mạnh của
mình, giá trị của mình đẩy phong trào bước vào thời kỳ tự giác.
Sau khi
phát hiện được chủ nghĩa Mác - Lênin là con đường giai phóng dân tộc, Nguyễn Ái
Quốc ngay từ khi còn ở Pháp đã ra sức truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin trên các
báo Nhân Đạo, Đời sống công nhân, báo Người Cùng Khổ, Bản án chế độ thực dân
Pháp đã biểu hiện 1 cách tập trung hoạt động của Người lúc bấy giờ. Đặc biệt từ
năm 1925 - 1929, đây là thời kỳ có nhiều sự kiện đặc biệt tác động mạnh mẽ đến
phong trào công nhân Việt Nam như: tháng 6/1925, Nguyễn Ái Quốc đã thành lập
hội Việt Nam
thanh niên cách mạng đồng chí hội. Sau đó hội Thanh niên đã phát triển tổ chức
của mình trong cả 3 Kỳ, tổ chức công hội cũng phát triển ở nhiều nơi. Với việc
xuất bản báo Thanh niên và những bài giảng trong các lớp huấn luyện chính trị
được tập hợp lại trong tác phẩm Đường Kách mệnh. Nguyền Ái Quốc đã thông qua tổ
chức mà truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam, vào giai cấp công nhân 1
cách có hệ thống và vận dụng vào điều kiện cụ thể của Việt Nam. Người chỉ rõ:
“Cách mạng Việt Nam phải đi theo con đường cách mạng triệt để của cách
mạng tháng Mười, công - nông là gốc, là chủ cách mạng. Cách mạng muốn thắng lợi phải có Đảng của giai cấp công nhân
được trang bị bằng học thuyết Mác - Lênin lãnh đạo, cách mạng Việt Nam phải
liên hệ với cách mạng thế giới”.
Năm
1928, Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội lại có chủ trương vô sản
hóa thực hiện phương châm “3 cùng” hội viên vào các nhà máy, hầm mỏ, đồn điền cùng
ăn cùng ở, cùng làm việc với công nhân để vừa tự rèn luyện mình vừa truyền bá
chủ nghĩa Mác - Lênin. Chịu ảnh hưởng của Thanh niên, những Đảng viên của Tân
Việt tiếp thu tư tưởng Mác - Lênin cùng hoạt động trong công nhân. Vì thế, chủ
nghĩa Mác - lênin được truyền bá rộng rãi vào Việt Nam làm cho phong trào đấu
tranh của công nhân lên cao, ý thức tổ chức, ý thức giai cấp tăng lên rõ rệt, số
lượng, quy mô các cuộc đấu tranh ngày càng lớn.
Từ 1926
- 1927, đã liên tiếp nổ ra nhiều cuộc bãi công của công nhân, viên chức, học
sinh học nghề. Lớn nhất là cuộc bãi công của 1000 công nhân nhà máy sợi Nam Định,
500 công nhân đồn điền cao su Cam Tiên, công nhân đồn điền cà phê Thái Nguyên.
Từ 1927 - 1928, các cuộc bãi công nổ ra nhiều hơn với tính chất đấu tranh quyết
liệt hơn, thời gian kéo dài hơn, tính tổ chức kỷ luật cao hơn. Công nhân đã tổ
chức kỷ niệm những ngày lễ lớn trong năm như kỷ niệm cách mạng tháng Mười
Nga, Công xã Pari, ngày Quốc tế lao động 1-5….
Đặc biệt,
trong 2 năm 1928 - 1929, đã có tới 40 cuộc bãi công nổ ra từ Bắc tới Nam, nhiều
cuộc bãi công lớn nổ ra ở các nhà máy sợi, xi măng Hải Phòng, dệt Nam Định,
diêm cưa Bến Thủy, xe lửa Vinh, than Hòn Gai… Đáng chú ý là phong đấu tranh
trong giai đoạn này đã nổ ra liên tiếp rộng khắp, đã có sự phối kết hợp, có tổ
chức lãnh đạo chặt chẽ, khẩu hiệu đấu tranh cũng nâng dần lên từ mực đích kinh
tế đến mục đích chính trị, ý thức giác ngộ giai cấp của công nhân ngày càng
cao. Giai cấp công nhân dần dần trở thành 1 lực lượng chính trị độc lập có tác
tụng lôi cuốn, quy tụ và dẫn đầu phong trào yêu nước.
Từ năm
1928 đến đầu năm 1929, phong trào dân tộc dân chủ ở nước ta đặc biệt là phong
trào công nhân phát triển rất mạnh mẽ. Yêu cầu thành lập 1 chính Đảng của giai
cấp công nhân đặt ra rất gay gắt. Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội
xuất hiện 2 quan điểm: Cần phải thành lập ngay 1 chính Đảng cộng sản để lãnh đạo
phong trào cách mạng và quan điểm chưa cần thành lập Đảng. Cuộc đấu tranh giữa
2 quan điểm này diễn ra gay gắt quyết liệt. Kết quả cuộc đấu tranh đã dẫn đến sự
ra đời của chi bộ cộng sản đầu tiên ở Bắc Kỳ (3/1929) và sau đó là 3 tổ chức cộng
sản lần lượt ra đời: Đông Dương cộng sản Đảng (6/1929), An Nam cộng sản Đảng
(7/1929), Đông Dương cộng sản liên đoàn (9/1929). Như vậy, sự ra đời của 3 tổ
chức cộng sản đầu tiên là sản phẩm tất yếu của lịch sử. Nó đánh dấu bước trưởng
thành vượt bậc của giai cấp công nhân Việt Nam từ giai cấp “tự mình” tiến lên
thành giai cấp “cho mình” và là bước chuẩn bị để tiến tới thành lập 1 Đảng
Cộng sản chân chính, duy nhất ở Việt Nam. Tuy nhiên, sự hoạt động riêng rẽ của
3 tổ chức cộng sản nói trên đã gây ra những trở ngại cho sự phát triển của
phong trào cách mạng (công kích lẫn nhau, tranh giành quần chúng của nhau…).
Yêu cầu của phong trào cách mạng của nước ta nói chung và phong trào công
nhân nói riêng là phải có 1 Đảng Cộng sản duy nhất. Trước tình hình ấy, Nguyền
Ái Quốc đã thực hiện vai trò lịch sử, thống nhất các tổ chức cộng sản thành 1
Đảng Cộng sản duy nhất tại Hội nghị ở Cửu Long - Hương Cảng. Vào ngày
3/2/1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời. Sự kiện trọng đại này đánh dấu
giai cấp công nhân đã hoàn toàn trở thành giai cấp tự giác đủ sức đảm nhận số 1
sứ mệnh lịch sử vẻ vang là lãnh đạo cách mạng Việt Nam.