PHONG TRÀO CÔNG NHÂN TỪ SAU CHIẾN TRANH
THẾ GIỚI THỨ NHẤT ĐẾN NĂM 1930
Sau
chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 - 1918), dưới tác động của chương trình
khai thác thuộc địa lần thứ 2 của Pháp, giai cấp công nhân Việt Nam tiếp tục
tăng nhanh về số lượng: từ 10 vạn (trước chiến tranh) lên 22 vạn (1929). Đời
sống và điều kiện của giai cấp công nhân vẫn rất thấp kém: bị bóc lột thậm tệ,
thời gian làm việc kéo dài từ 12-16 giờ. Lương rẻ mạt, thu nhập bình quân là 10
đồng/tháng. Không những vậy, họ còn bị đánh đập ngược đãi. Vì vậy, cuộc sống
rất cực khổ. Tình trạng bị áp bức, bị đói khổ cộng với lòng yêu nước và truyền
thống đấu tranh bất khuất của dân tộc khiến cho giai cấp công nhân Việt Nam
ngày càng đấu tranh mạnh mẽ.
Do
ảnh hưởng của cách mạng tháng Mười Nga, ảnh hưởng của cuộc khai thác thuộc
địa lần thứ 2 và của phong trào yêu nước đã làm cho phong trào công nhân phát
triển mạnh mẽ. Sự phát triển này có thể chia thành 2 thời kỳ sau:
Phong trào công nhân từ năm 1919-1925
Ngay
sau khi mới ra đời, giai cấp công nhân Việt Nam đã đấu tranh như bỏ việc làm,
phá giao kèo… Từ sau chiến tranh thế giới lần thứ 1, giống như nhiều nước khác
tại Việt Nam. Cuộc phản công của bọn chủ diễn ra ở khắp nơi và ở khắp nơi giai
cấp công nhân Việt Nam cũng bắt đầu giác ngộ về lực lượng và giá trị của mình.
Sự giác ngộ đó được thể hiện bằng rất nhiều hình thức đấu tranh của công nhân
cho các quyền lợi của giai cấp mình. Từ năm 1919 cho đến năm 1925, có khoảng 25
cuộc đấu tranh tiêu biểu là cuộc đấu tranh của công nhân Ba Son (8/25).
Mở
đầu là cuộc bãi công của công nhân thủ thủy Hải Phòng đòi phụ cấp đắt đỏ, công
nhân Sài Gòn - Chợ Lớn đã thành lập Công hội bí mật do Tôn Đức Thắng đứng đầu
và tin tức về sự phát triển của phong trào bãi công của công nhân thế giới sau
chiến tranh mà trực tiếp là thắng lợi của các cuộc bãi công của công nhân thủy
thủ Pháp, Trung Quốc đã có ảnh hưởng tích cực, góp phần cổ vũ, động viên công
nhân Việt Nam hăng hái đấu tranh.
Năm
1922, công nhân viên chức các sở công thương tư nhân Bắc kỳ đòi nghỉ ngày chủ
nhật có hưởng lương. Cuộc đấu tranh đã buộc viên thống sứ Bắc kỳ phải thừa
nhận: Vấn đề nghỉ ngày chủ nhật là yêu cầu chính đáng của người làm công”.
Ngoài ra, còn có cuộc bãi công của 600 thợ nhuộm Chợ Lớn. Sang năm 1924, bãi công
diễn ra ở nhiều nơi trong các nhà máy dệt, rượu, xay sát gạo ở Nam Định, Hà
Nội, Hải Dương… Họ đòi tăng lương giảm giờ làm, chống đánh đập, chống cúp
phạt, đòi nghỉ ngày chủ nhật có hưởng lương…
Năm
1925, bãi công diễn ra ở nhiều nơi hơn nhưng quan trọng nhất là cuộc bãi công
của công nhân thợ máy Ba Son ở cảng Sài Gòn nhằm ngăn chặn tàu Pháp trở lính đi
đàn áp cách mạng Trung Quốc và các thuộc địa ở Bắc Phi. Sự kiện bãi công của
công nhân Ba Son có ý nghĩa lớn. Nó đánh dấu một bước tiến mới của phong trào
công nhân Việt Nam, giai cấp công nhân nước ta từ đây bước đầu đi vào đấu
tranh tự giác.
Như
vậy, các cuộc đấu tranh của công nhân từ năm 1919 - 1925 diễn ra tuy còn ít
nhưng đã diễn ra lẻ tẻ trong toàn quốc. Các cuộc đấu tranh của công nhân ở giai
đoạn này còn phụ thuộc vào phong trào yêu nước song dần dần đã xuất hiện các
cuộc đáu tranh riêng lẻ và bước đầu đã có lãnh đạo, có tổ chức như ở Ba Son.
Tốc độ bãi công ngày càng tăng với quy mô ngày càng lớn nhưng nhìn chung các
cuộc đấu tranh ở giai đoạn này còn mang tính chất tự phát chủ yếu là đấu tranh
kinh tế chưa có sự phối hợp hành động, chưa tỏ rõ được là 1 lực lượng chính
trị độc lập. Tuy nhiên, do kẻ thù của giai cấp công nhân đồng thời là kẻ thù
của dân tộc Việt Nam nên phong trào công nhân có những khả năng rút ngắn quá
trình phát triển từ tự phát lên tự giác. Vì vậy, các cuộc đấu tranh ở cuối giai
đoạn nhất là cuộc đấu tranh của công nhân Ba Son đã chứng tỏ rằng: Tư tưởng của
cách mạng tháng Mười Nga và chủ nghĩa Mác - Lênin đã thấm sâu hơn 1 bước vào
giai cấp công nhân Việt Nam, làm cho giai cấp công nhân Việt Nam ý thức được
sức mạnh của mình, giá trị của mình đẩy phong trào bước vào thời kỳ tự giác.
Thời kỳ 1926 - 1930
Phong
trào công nhân từ năm 1926 - 1930 phát triển mạnh mẽ hơn cả về số lượng và
chất lượng, tính tổ chức lãnh đạo, ý thức giai cấp tăng lên rõ rệt. Từ 1926 -
1927, đã liên tiếp nổ ra nhiều cuộc bãi công của công nhân, viên chức, học sinh
học nghề. Lớn nhất là cuộc bãi công của 1000 công nhân nhà máy sợi Nam Định,
500 công nhân đồn điền cao su Cam Tiên, công nhân đồn điền cà phê Thái Nguyên.
Từ 1927 - 1928, các cuộc bãi công nổ ra nhiều hơn với tính chất đấu tranh quyết
liệt hơn, thời gian kéo dài hơn, tính tổ chức kỷ luật cao hơn. Công nhân đã tổ
chức kỷ niệm những ngày lễ lớn trong năm như kỷ niệm cách mạng tháng Mười
Nga, Công xã Pari, ngày Quốc tế lao động 1-5…. Trong những ngày kỷ niệm trên,
công nhân bãi công chính trị, hội họp diễn thuyết, dải truyền đơn, căng khẩu
hiệu, xuất bản báo chí. Các cuộc bãi công đều có tổ chức công hội đỏ lãnh đạo.
Tháng 9/1929, Tổng công hội Bắc kỳ thành lập, lãnh đạo thống nhất phong trào
công nhân. Đặc biệt, từ năm 1928 - 1929, đã có tới 40 cuộc bãi công nổ ra từ
Bắc tới Nam. Lớn nhất là cuộc các cuộc bãi công nổ ra ở các nhà máy sợi, xi
măng Hải Phòng, dệt Nam Định, diêm cưa Bến Thủy, xe lửa Vinh, than Hòn Gai…
Song song với các cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân thì chủ nghĩa Mác-Lênin
được truyền bá vào Việt Nam ngày càng mạnh mẽ. Các tổ chức như Việt Nam thanh
niên cách mạng đồng chí hội cũng được thành lập, phát triển mạnh ở cả 3 kỳ,
tổ chức Công hội cũng được phát triển ở nhiều nơi. Năm 1929, Việt Nam thanh
niên cách mạng đồng chí hội lại có chủ trương vô sản hóa đưa các hội viên vào
các nhà máy, hầm mỏ, đồn điền cùng ăn cùng ở và cùng làm việc với công nhân để
vừa tự rèn luyện mình vừa truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin. Vì thế, phong trào
đấu tranh của công nhân ngày càng lên cao, ý thức tổ chức, ý thức giai cấp tăng
lên rõ rệt. Như vậy, phong trào công nhân 1926 - 1930, đã nổ ra liên tục, rộng
khắp, có sự phối hợp, hoạt đồng đấu tranh, có tổ chức lãnh đạo chặt chẽ, khẩu
hiệu đấu tranh cũng được nâng dần từ mục đích kinh tế đến mục đích chính trị.
Điều đó chứng tỏ phong trào công nhân đã chịu ảnh hưởng sâu sắc của chủ nghĩa
Mác - Lênin làm cho phong trào có tính chất tự giác rõ rệt.
Từ
năm 1928 đến đầu năm 1929, phong trào dân tộc dân chủ ở nước ta đặc biệt là
phong trào công nhân phát triển rất mạnh mẽ. Yêu cầu thành lập 1 chính Đảng
của giai cấp công nhân đặt ra rất gay gắt. Việt Nam thanh niên cách mạng
đồng chí hội xuất hiện 2 quan điểm: Cần phải thành lập ngay 1 chính Đảng cộng
sản để lãnh đạo phong trào cách mạng và quan điểm chưa cần thành lập Đảng.
Cuộc đấu tranh giữa 2 quan điểm này diễn ra gay gắt quyết liệt. Kết quả cuộc
đấu tranh đã dẫn đến sự ra đời của chi bộ cộng sản đầu tiên ở Bắc kỳ (3/1929)
và sau đó là 3 tổ chức cộng sản lần lượt ra đời: Đông Dương cộng sản Đảng
(6/1929), An Nam cộng sản Đảng (7/1929), Đông Dương cộng sản liên đoàn (9/1929).
Để cuối cùng là sự thống nhất 3 tổ chức cộng sản vào đầu năm 1930.
Phong
trào công nhân từ 1919-1930, có sự phát triển mau lẹ. Phong trào hình thành
từng bước phát triển từ tự phát lên tự giác. Sự phát triển này đã thúc đẩy quá
trình “lột xác” của tổ chức thanh niên đã trở thành Đảng mác xít. Đồng thời, sự
phát triển này đã làm cho phong trào công nhân có đủ trình độ xã hội, cơ sở
giai cấp để lãnh đạo phong trào dân tộc và là cơ sở cho việc thành lập Đảng
vào đầu năm 1930.
Trong
những năm 20 của thế kỷ XX, phong trào công nhân Việt Nam phát triển rất mạnh
mẽ. Cùng với phong trào yêu nước dân chủ, phong trào công nhân cũng phát
triển mạnh với ý thức chính trị rõ rệt đưa đến sự đòi hỏi tất yếu là phải có sự
lãnh đạo của 1 tổ chức Đảng. Vì vậy, các tổ chức cộng sản lần lượt ra đời vào
năm 1929 đó là Đông Dương cộng sản Đảng, An Nam cộng sản Đảng, Đông Dương cộng
sản liên đoàn. Đây là 1 sản phẩm tất yếu của lịch sử. Nó đánh dấu bước trưởng thành
vượt bậc của giai cấp công nhân Việt Nam. Sau đó Nguyễn Ái Quốc đã thống nhất
3 tổ chức cộng sản này thành Đảng Cộng sản Việt Nam. Sự kiện này đánh dấu
giai cấp công nhân Việt Nam có đủ sức mạnh để đảm nhận vai trò lãnh đạo cách
mạng Việt Nam.
Đảng
Cộng sản Việt Nam ra đời phản ảnh sự phát triển tất yếu của cách mạng
Việt Nam. Trong đó, sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa 3 yếu tố chủ nghĩa Mác -
Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Trong sự kết hợp đó,
phong trào công nhân là 1 nhân tố để hình thành Đảng Cộng sản Việt Nam.