* Những điều kiện lịch sử ảnh hưởng đến
phong trào đấu tranh dân tộc dân chủ
Sau
chiến tranh thế giới thứ nhất, do ảnh hưởng của chính sách nới lỏng của Pháp mà
các tầng lớp có điều kiện vươn lên dần dần trở thành 1 giai cấp trong xã hội.
Do họ bị chèn ép về kinh tế, bị bạc đãi, khinh rẻ của thực dân Pháp. Cho nên,
các giai cấp này đã đứng lên đấu tranh chống để quốc và chống phong kiến. Đồng
thời, chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp đã làm cho mâu thuẫn
giữa dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp ngày càng gay gắt. Đây chính là nguồn
gốc, động lực dẫn đến sự bùng nổ của phong trào yêu nước sau chiến tranh thế
giới thứ I.
Trong
lúc chủ nghĩa Mác - Lênin chưa có điều kiện truyền bá vào nước ta thì tư tưởng
dân chủ tư sản của Nhật, Trung Quốc (đặc biệt là chủ nghĩa Tam dân của Tôn
Trung Sơn tiếp tục tràn vào Việt Nam) và cách mạng Pháp chi phối PT đấu tranh theo khuynh hướng dân
chủ tư sản ở nước ta.
Phong
trào dân tộc dân chủ ở Việt Nam
từ 1919 – 1925 cụ thể:
-
Hoạt động của Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh và một số người VN sống ở nước
ngoài.
-
Hoạt động của tư sản, tiểu tư sản và công nhân VN
* Các phong trào tiêu biểu
Thứ nhất, là hoạt động của Phan Bội Châu,
Phan Châu Trinh và một số người Việt Nam sống ở nước ngoài.
Sau
những năm bôn ba hoạt động ở Nhật Bản, Trung Quốc không thành công, Phan Bội
Châu bị giới quân phiệt ở Quảng Đông (Trung Quốc) bắt giam 1913 và đến cuối
1917 mới được trả tự do. Trong bối cảnh đó, ảnh hưởng của cách mạng tháng Mười
Nga và sự ra đời của nước Nga Xô viết đã đến với PBC như một luồng ánh sáng
mới.
Tháng
6/1925, giữa lúc chưa thể thay đổi được tổ chức, hình thức đấu tranh cho thích
hợp với biến chuyển của đất nước và thời đại, Phan Bội Châu bị thực dân Pháp
bắt tại Thượng Hải - Trung Quốc, kết án tù rồi đưa về an trí ở Huế. Nước Pháp
lúc bấy giờ à nơi có nhiều người Việt Nam sống và hoạt động cho phong trào dân
tộc.
Năm
1922, nhân dịp vua Khải định sang dự cuộc triển lãm thuộc địa để khuếch trương “công
lao khai hóa” của Pháp, Phan Châu Trinh viết Thất điều thư, vạch ra bảy tội
đáng chém của Khải Định. Ông thường tổ chức diễn thuyết, lên án chế đọ quân chủ
và quan trường Việt Nam, tiếp tục hô hào “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân
sinh”…
Tháng
6/1925 Phan Châu Trinh về nước. Ông tiếp tục tuyên truyền, đả phá chế độ quân
chủ, đề cao dân quyền… Nhiều tầng lớp nhân dân, nhất là thanh niên, rất mến mộ
và hưởng ứng hoạt động của Phan Châu Trinh.
Nhiều
Việt kiều tại Pháp đã tham gia hoạt đọng yêu nước, chuyển tài liệu, sách báo
tiến bộ về nước. Năm 1925, “Hội những người lao động trí óc Đông Dương” ra đời.
Năm
1923, tại Quảng Châu ( Trung Quốc) Lê Hồng Sơn, Hồ Tùng Mậu, Nguyễn Công Viễn…
lập ra tổ chức Tâm Tâm xã. Ngày 19/6/1924, Phạm Hồng Thái thực hiện việc mưu
sát Toàn quyền Đông Dương Méc lanh ở Sa Diện (Quảng Châu). Việc không thành,
Phạm Hồng Thái anh dũng hi sinh, song tiếng bom của người thanh niên yêu nước
ấy đã nhóm tiếp ngọn lửa chiến đấu của nhân dân ta, nhất là trong giới thanh
niên. Sự kiện đó “như chim én nhỏ báo hiệu mùa xuân”.
Thứ hai, là hoạt động của tư sản, tiểu tư
sản và công nhân Việt Nam
Tư
sản Việt Nam đã tổ chức cuộc tẩy chay tư sản Hoa kiều, vận động người Việt
Nam chỉ mua hàng của người Việt Nam, “chấn hưng nội hóa”, “bài trừ ngoại hóa”.
Năm
1923, địa chủ và tư sản Việt Nam đấu tranh chống độc quyền cảng Sài Gòn, độc
quyền xuất cảng lúa gạo tại Nam Kỳ của tư bản Pháp.
Một số tư sản và
địa chủ lớn ở Nam Kỳ (đại biểu là Bùi Quang Chiêu, Nguyễn Phan Long…) lập ra
Đảng Lập hiến (1923). Đảng này đưa ra một số khẩu hiệu đòi tự do, dân chủ.
Nhưng khi được thực dân Pháp nhượng bộ một sô quyền lợi (như cho tham gia Hội
đồng quản hạt Nam Kỳ), họ lại thỏa hiệp với chúng.
Ngoài
Đảng Lập hiến còn có nhóm Nam Phong của Phạm Quỳnh cổ vũ thuyết “quân chủ lập
hiến”, nhóm Trung bắc tân văn của Nguyễn Văn Vĩnh đề cao tư tưởng “trực trị”.
Tầng
lớp tiểu tư sản trí thức gồm sinh viên, học sinh và giáo viên, viên chức, nhà
văn, nhà báo… sôi nổi đấu tranh đòi quyền tự do dân chủ. Một số tổ chwucs chính
trị như Việt Nam nghĩa đoàn, Hội Phục Việt, Đảng Thanh niên (đại biểu là Tôn
Quang Phiệt, Đặng Thai Mai, Trần Huy Liệu, Nguyễn An Ninh…) được thành lập với
nhiều hoạt động phong phú và sôi động (mít tinh, biểu tình, bãi khóa…). Nhiều
tờ báo tiến bộ lần lượt ra đời. Báo tiếng Pháp có các tờ Chuông rè, An Nam trẻ,
Người nhà quê. Báo tiếng Việt có Hữu thanh, Tiếng dân, Đông Pháp thời báo, Thực nghiệp dân báo… Một số nhà xuất bản tiến
bộ như Nam
Đồng thư xã (Hà Nội ), Cường học thư xã (Sài Gòn), Quan hải tùng thư (Huế )… đã
phát hàn nhiều loại sách báo tiến bộ.
Trong
phong trào yêu nước dân chủ công khai hồi đó, có một số sự kiện nổi bật như :
cuộc đấu tranh đòi nhà cầm quyền Pháp trả tự do cho Phan Bội Châu (1925), các
cuộc truy điệu, để tang Phan Châu Trinh (1926).
Các
cuộc đấu tranh của công nhân ngày càng nhiều hơn, tuy vẫn vòn lẻ tẻ và tự phát.
Ở Sài Gòn – Chợ Lớn đã thành lập Công hội bí mật.
Tháng
8/1925, thợ máy xưởng Ba Son tại cảng Sài Gòn đã bãi công, không chịu sửa chữa
chiến hạm Misơlê của Pháp trước khi chiến hạm này trở binh lính sang tham gia
đàn áp phong trào đấu tranh của nhân dân Trung Quốc. Với yêu sách đòi tăng
lương 20% và phải cho những công nhân bị thải hồi trở lại làm việc, sau 8 ngày
bãi công, nhà chức trách Pháp đã phải chấp nhận tăng lương 10% cho công nhân.
Sự kiện này đánh dấu bước phát triển mới của phong trào công nhân, từ đấu tranh
tự phát lên đấu tranh tự giác.
Những
hoạt động của Nguyễn Ái Quốc trong thời gian từ 1919 – 1925 góp phần làm cho
phong trào dân tộc dân chủ Việt Nam
phát triển mạnh mẽ. Sau một thời gian bôn
ba ở nước ngoài, Nguyễn Ai Quốc đã tìm thấy con đường cứu nước chân chính, đó
là con đường cách mạng Tháng Mười Nga. Người đã không ngừng hoạt động để truyền
bá chủ nghĩa Mác – Lê nin về nước, chuẩn bị cho việc thành lập một chính đảng
vô sản ở Việt Nam.
* Nhận xét về phong trào
Phong
trào dân tộc dân chủ trong những năm 1919 đến 1925 đã diễn ra sôi nổi, thu hút
được đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia đấu tranh, chủ yếu là tư sản và
tiểu tư sản dân tộc. Quy mô của phong trào rộng lớn, không chỉ bó hẹp ở trong
nước mà cả ở nước ngoài với các hoạt động của Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh,
của tổ chức Tâm Tâm xã, của các giai cấp, tầng lớp trong xã hội… Tuy nhiên, tất
cả các phong trào đều bị thất bại. Sự thất bại của phong trào dân tộc dân chủ
do cả nguyên nhân khách quan và chủ quan chi phối.
Nguyên nhân khách quan: Hệ tư tưởng dân
chủ tư sản cho đến sau chiến tranh thế giới thứ nhất đã không còn sức hấp dẫn
như trước nhất là từ khi cách mạng tháng Mười Nga thắng lợi. Pháp còn mạnh
đủ sức đàn áp các phong trào
Nguyên nhân chủ quan: Giai cấp tư sản
Việt Nam nhỏ bé về kinh tế, bạo nhược về chính trị. Tiểu tư sản đời sống
kinh tế bấp bênh dẫn đến dao động, chỉ hăng hái nhất thời.
Sự
thất bại của khuynh hướng tư sản, suy cho cùng bắt nguồn từ sự non yếu, không
vững chắc của phong trào tư sản, và cũng là sự thất bại của giai cấp tư sản dân
tộc trong cuộc đấu tranh giành quyền lãnh đạo cách mạng Việt Nam với giai cấp
vô sản.
Phong
trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản có vị trí quan trọng trong PT
dân tộc, dân chủ ở nước ta những năm sau chiến tranh thế giới thứ nhất đồng
thời có ý nghĩa to lớn trong toàn bộ tiến trình cách mạng Việt Nam.
Phong
trào yêu nước dân chủ tư sản ở nước ta đã cổ vũ, khơi dậy lòng yêu nước truyền
thống đấu tranh bất khuất của dân tộc, góp phần truyền bá những tư tưởng tiến
bộ vào nước ta.
Góp
phần hỗ trợ và thúc đẩy các hoạt động của phong trào công nhân đồng thời tạo
những điều kiện thuận lợi cho việc truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin ở nước ta.
Từ
phong trào yêu nước dân chủ tư sản làn nảy sinh các tổ chức chính trị như Tân
Việt, Việt Nam Quốc dân Đảng. Từ phong trào đó làm cho nhiều phần tử tiên
tiến đi tìm con đường cứu nước, đi tiên phong trong sự nghiệp cứu nước. Với
những ý nghĩa ấy nên phong trào yêu nước là 1 trong 3 nhân tố cấu thành nên
Đảng Cộng sản Việt Nam.