Chương
trình khai thác thuộc địa lần 2 của thực dân Pháp:
a. Bối cảnh lịch sử (nguyên
nhân, hoàn cảnh)
Năm
1858, thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta. Năm 1884, chính thức đặt ách thống
trị trên toàn cõi VN, nhân dân ta hưởng ứng chiếu Cần Vương đã nổi dậy chống Pháp
xâm lược. Sau khi đàn áp được phong trào yêu nước, thực dân Pháp bắt đầu thực
hiện chương trình khai thác thuộc địa lần 1ở Đông Dương, chương trình khai thác
thuộc địa lần1 được thực hiện tới năm 1914 phải bỏ dở vì chiến tranh thế
giới thứ 1 bùng nổ, nước Pháp tham chiến. Trong cuộc chiến tranh thế giới
thứ 1 (1914-1918), thực dân Pháp thi hành chính sách vơ vét sức người, sức của
ở Đông Dương cho cuộc chiến tranh đế quốc. Một mặt, chúng đưa hàng vạn lính chiến,
lính thợ ở Đông Dương sang chiến trường châu Âu. Mặt khác, chúng tăng cường
đánh thuế vào dân, mở mang 1 số ngành kinh tế phục vụ cho chiến tranh.
Sau
chiến tranh thế giới 1, Pháp tuy thắng trận nhưng nền kinh tế bị chiến
tranh tàn phá nặng nề. Các ngành sản xuất như công nghiệp, nông nghiệp, thương
nghiệp, giao thông vận tải bị giảm sút nghiêm trọng, đồng phơ-răng mất giá.
Cuộc khủng hoảng thiếu trong các nước tư bản càng gây nên khó khăn cho nền
kinh tế Pháp. Nước Pháp bị thiệt hại nặng nề nhất với hơn 1,4 triệu người chết,
thiệt hại về vật chất lên gần 200 tỷ Phrăng. Cách mạng tháng Mười Nga thắng lợi,
nước Nga Xô viết ra đời, Quốc tế cộng sản được thành lập… Tình hình đó đã tác động
mạnh đến Việt Nam.
Để hàn
gắn những vết thương chiến tranh và khôi phục địa vị kinh tế của mình trong
thế giới tư bản, buộc Pháp vừa phải bóc lột nhân dân lao động trong nước vừa
phải ráo riết đẩy mạnh khai thác thuộc địa.Ở Đông Dương, mà chủ yếu ở Việt Nam,
thực dân Pháp thực hiện chương trình khai thác thuộc địa lần hai. Chương trình
này được triển khai từ sau Chiến tranh thế giới 1 (1919) đến trước cuộc khủng
hoảng kinh tế thế giới (1929 – 1933).
Việt Nam là thuộc địa của Pháp nên nằm trong
chương trình khai thác thuộc địa này và chúng xem: “VN là 1 thuộc địa quan trọng
nhất, phát triên nhất và giàu có nhất trong tất cả các thuộc địa của Pháp trên
thế giới”.
b. Nội dung:
Đây là
cuộc khai thác toàn diện, triệt để cả về kinh tế và chính trị:
Kinh Tế: Để khai thác nhanh các
nguồn tài nguyên thiên nhiên và tăng cường bóc lột nguồn dân công rẻ mạt và để
nắm chắc thị trường Việt Nam, thực dân Pháp vừa tăng vọt vốn đầu tư vừa thay đổi
hướng đầu tư.
Chỉ
trong vòng 6 năm từ 1924-1929, tổng số vốn đầu tư vào Việt Nam tăng gấp 6 lần
so với vốn đầu tư trong 20 năm trước chiến tranh, phản ánh sự đầu tư tăng chưa
từng có này, báo Thời Đại - cơ quan ngôn luận của tư bản tài chính Pháp đã viết:
Sự thật ở nước ta, nhà tư bản từ lâu vẫn tỏ ra e ngại đối với những doanh nghiệp
khai thác lãnh thổ hải ngoại thì bây giờ lại sẵn sàng hướng về những doanh nghiệp
ấy nhất là ở Đông Dương.
Nếu như
trong cuộc khai thác thuộc địa lần 1, hướng đầu tư chủ yếu vào khai thác mỏ và
giao thông thì trong cuộc khai thác thuộc địa lần 2, Pháptập trung đầu tư mạnh,
dồn dập vào công nghiệp, nông nghiệp. Trong nông nghiệp, thực dân Pháp đẩy mạnh
cướp đoạt ruộng đất của nông dân để mở thêm đồn điền, cây cao su giữ vị trí
then chốt nhất trở thành yếu hầu kinh tế ở Đông Dương. Diện tích trồng cao su
tăng hẳn lên, nhiều công ty cao su lớn ra đời như công ty Misolanh nắm độc quyền
toàn bộ sản phẩm cao su ở Đông Dương. Trong công nghiệp, thực dân Pháp thực
hiện đẩy mạnh công nghiệp khai thác mỏ chủ yếu nhất là mỏ than. Các công ty
than cũng được tăng cường và phát triển mạnh. Nhiều công ty than mới nối tiếp
nhau ra đời như ở Hạ Long, Đồng Đăng…Ngoài ra, Pháp mở thêm 1 số xí nghiệp chế
biến nhưng không cạnh tranh với công nghiệp nước Pháp như: sợi Hải Phòng, dệt Nam Định, rượu
Hà Nội…
Thương
nghiệp cũng được phát triển hơn, chúng độc chiếm thị trường Đông Dương. Dùng luật
đánh thuế nặng vào hàng nhập của nước ngoài nhất là Trung Quốc và Nhật Bản
nhưng lại ưu tiên hàng nhập của Pháp. Vì vậy, hàng nhập của P tăng lên rất
nhanh. Ngoài ra, chúng còn đặt ra nhiều thứ thuế, nhờ có thuế mà ngân sách Đông
Dương tăng gấp 3 lần so với trước chiến tranh.
Giao
thông vận tải cũng được đầu tư phát triển thêm nhiều loại đường sát xuyên Đông
Dương được nối liền nhiều đoạn như Đồng Đăng - Na Sầm, Vinh - Đông Hà để phục vụ
đắc lực cho khai thác và chuyên trở nguyên vật liệu, hàng hóa. Đặc biệt ngân
hàng Đông Dương đã trở thành 1 thế lực lớn nắm độc quyền chỉ huy các ngành kinh
tế ở Đông Dương.
Nhìn
chung trong cuộc khai thác thuộc địa lần II, tuy có sự tăng vọt vốn đầu tư và
thay đổi vốn đầu tư nhưng chính sách khai thác thuộc địa của Pháp về căn bản vẫn
ko thay đổi, chúng vẫn hết sức hạn chế phát triển công nghiệp đặc biệt là công
nghiệp nặng như luyện kim, hóa chất, cơ khí…nhằm cột chặt ĐD trong mối quan hệ
phụ thuộc với công nghiệp chính quốc, biến Đông Dương thành thị trường độc chiếm
của tư bản Pháp và Việt Nam vẫn là 1 nước có nền kinh tế lạc hậu, què quặt
phụ thuộc vào nền kinh tế Pháp.
Chính trị: Để phục vụ đắc lực cho
chính sách khai thác về kinh tế, Chính sách cai trị thuộc địa của Pháp cũng được
tăng cường. Chúng thi hành 1 chính sách chuyên chế triệt để. Mọi quyền hành
trong nước đều nằm trong tay người Pháp, bọn vua quan Nam triều chỉ
là những tên bù nhìn, tay sai. Nhân dân không được hưởng 1 chút quyền tự do
dânc hủ nào, chúng thẳng tay đàn áp các phong trào yêu nước của nhân dân ta.
Thâm độc hơn chúng còn dùng chính sách chia để trị. Chúng chia nước ta làm 3 kỳ
với 3 chế độ chính trị khác nhau: Bắc Kỳ là đất bảo hộ; Trung Kỳ: đất tự trị;
Nam Kỳ: đất thuộc địa nhằm chia rẽ dân tộc. Ngoài ra, chúng còn dùng những thủ
đoạn chính trị lừa bịp nhằm mục đích mị dân và tăng cường đào tạo bọn tay sai
cho chúng như triệt để lợi dụng bọn địa chủ, cường hào ở nông thôn cho chúng
tham gia vào Hội đồng Quản hạt ở Nam Kỳ, viện Dân biểu ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ.
Văn hóa - Giáo dục: chúng
cũng triệt để thi hành chính sách văn hóa nô dịch, ngu dân nhằm gây tâm lý tự
ty dân tộc. Chúng mở trường thông qua sách báo công khai tuyên truyền cho chính
sách “khai hóa” của chúng nhằm gieo giắt tư tưởng hòa bình hợp tác với bọn bán
nước và bọn cướp nước. Đồng thời, chúng khuyến khích các hoạt động mê tín dị
đoan, các tệ nạn xã hội như rượu chè, trộm cắp, cờ bạc…Như vậy, những chính
sách về chính trị - văn hóa - giáo dục về căn bản vẫn không hề thay đổi mà ngày
càng được tăng cường hơn.
Cuộc
khai thác thuộc địa lần 2 chính là sự tiếp tục của cuộc khai thác thuộc địa lần
1, các ngành kinh tế ở Đông Dương tuy có phát triển song chỉ là bề nổi, là hình
thức còn thực chất những chính sách trên đã làm lộ rõ sự tham lam, tàn bạo của
thực dân Pháp. Mặt khác, nó phản ánh đầy đủ tính chất vụ lợi, vụ lợi của bọn
thực dân Pháp. Vì thế, cuộc khai thác này nhiều lãnh tụ của Đảng đã phát biểu:
Nó mạng lại tính chất đầu cơ và Việt Nam là điển hình của xứ thuộc địa bộc lộ
rõ tính chất sâu mọt, ăn bám và lạc hậu của thực dân Pháp.