Những thành tựu và yếu kém về kinh tế - xã hội của nước ta trong kế hoạch Nhà nước 5 năm 1991 – 1995
* Nhiệm vụ và mục tiêu của kế hoạch 5 năm 1991 – 1995
Đại hội đại biểu toàn quốc lần VII của Đảng họp từ 24 đến 27/6/1991 đã tổng kết, đánh giá việc thực hiện đường lối đổi mới của Đảng từ đại hội VI, đề ra chủ trương, nhiệm vị nhằm kế thừa, phát huy những thành tựu, ưu điểm đã đạt được; khắc phục những khó khăn, yếu kém mắc phải trong bước đầu đổi mới, điều chỉnh, bổ sung, phát triển đường lối đổi mới để tiếp tục đưa sự nghiệp đổi mới đất nước đi lên.
Đại hội còn quyết định một số vấn đề về chiến lược lâu dài, đó là thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH và Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000.
Xuất phát từ đặc điểm tình hình, căn cứ vào mục tiêu của chặng đường đầu của thời kỳ quá độ lên CNXH, Đại hội VII của Đảng đã đề ra nhiệm vụ, mục tiêu kinh tế - xã hội của kế hoạch 5 năm 1991 – 1995 là: đẩy lùi và kiểm soát được lạm phát, ổn định, phát triển và nâng cao hiệu quả sản xuất xã hội. Ổn định và từng bước cải thiện đời sống nhân dân, bắt đầu có tích lũy từ nội bộ nền kinh tế. Để thực hiện mục tiêu trên, cần phát huy sức mạnh của các thành phần kinh tế, đẩy mạnh Ba chương trình kinh tế với những nội dung cao hơn trước và từng bước xây dựng cơ cấu kinh tế mới theo yêu cầu công nghiệp hóa.
*Những tiến bộ (hay những thành tựu)
Thực hiện những nhiệm vụ, mục tiêu của kế hoạch Nhà nước 5 năm 1991 – 1995, trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, nhân dân ta đạt được những thành tựu và tiến bộ to lớn.
Trong 5 năm, nền kinh tế tăng trưởng nhanh, GDP tăng bình quân hàng năm là 8,2%, công nghiệp tăng bình quân hàng năm là 13,3%, nông nghiệp là 4,5%. Nhịp độ phát triển kinh tế được đẩy mạnh, nhiều mục tiêu chủ yếu của kế hoạch 5 năm hoàn thành vượt mức.
Trong lĩnh vực tài chính, tiền tệ, nạn lạm phát từng bước bị đẩy lùi, từ mức 67,1% năm 1991, xuống mức 12,7% năm 1995. Tỉ lệ thiếu hụt ngân sách được kiềm chế.
Trong 5 năm, xuất khẩu đạt 17 tỉ USD, tăng số mặt hàng có khối lượng xuất khẩu lớn như dầu thô, gạo, cà phê, hải sản, may mặc… nhập khẩu trên 21 tỉ USD. Quan hệ mậu dịch mở rộng với trên 100 nước và tiếp cận với nhiều thị trường mới.
Vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài trong 5 năm tăng nhanh, bình quân hàng năm là 50 %. Đến cuối 1995, tổng số vốn đăn kí cho các dự án đầu tư trực tiếp của nước ngoài đạt trên 19 tỉ USD, trong đó có khoảng 1/3 đã được thực hiện.
Hoạt động khoa học và công nghệ gắn bó hơn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, thích nghi dần với cơ chế thị trường. Công tác giáo dục và đào tạo có bước phát triển mới sau một số năm giảm sút.
Thu nhập và đời sống của các tầng lớp nhân dân ở các vùng đều được cải thiện với mức độ khác nhau. Mỗi năm giải quyết được việc làm cho hơn 1 triệu lao động.
Tình hình chính trị - xã hội ổn định, quốc phòng và an ninh được củng cố.
Nước ta ngày càng mở rộng quan hệ đối ngoại, phá thế bị bao vây, tham gia tích cực vào các hoạt động của cộng đồng quốc tế. Đến 1995, ta đã có quan hẹ ngoại giao với hơn 160 nước, có quan hệ buôn bán với trên 100 nước. Các công ti của hơn 50 nước và vùng lãnh tổ đã đầu tư trực tiếp vào nước ta. Tháng 7/1995, Việt Nam và Mĩ bình thường hóa quan hệ ngoại giao. Ngày 28/7/1995, Việt Nam chính thức gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN).
* Hạn chế
Sau 5 năm thực hiện kế hoạch, bên cạnh thành tựu và tiến bộ, còn nhiều khó khăn và hạn chế chưa được giải quyết.
Nước ta vẫn là một trong những nước nghèo nàn trên thế giới, lực lượng sản xuất nhỏ bé, cơ sở vật chất kĩ thuật lạc hậu, trình độ khoa học và công nghệ chuyển biến chậm, hiệu quả sản xuất kinh doanh, năng suất lao động thấp.
Tình trạng tham nhũng, lãng phí, buôn lậu, làm ăn phi pháp chưa được ngăn chặn. Những hiện tượng tiêu cực nghiêm trọng kéo dài trong bộ máy nhà nước.
Sự phân hóa giàu nghèo giữa các vùng, giữa thành thị và nông thôn, giữa các tầng lớp cư dân tăng nhanh, đời sống của một bộ phạn nhân dân, nhất là ở những vùng sâu, vùng xa còn nhiều khó khăn.