Qúa trình thống nhất đất nước về mặt nhà nước đã diễn ra như thế nào?
* Hoàn cảnh lịch sử
Đất nước ta từ lâu đã là một, thống nhất đất nước là một quy luật phát triển của lịch sử dân tộc. Từ xưa đến nay, tất cả các thế lực muốn chia cắt đất nước ta đều bị lịch sử chon vùi. Hồ Chủ Tịch đã từng nói: “ Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một. Sông có thể cạn, núi có thể mòn song chân lý ấy không bao giờ thay đổi”.
Sau đại thắng mùa xuân 1975, Tổ quốc Việt Nam được thống nhất về mặt lãnh thổ, song ở mỗi miền vẫn tồn tại hình thức tổ chức nhà nước khác nhau. Thực tế đó trái với nguyện vọng, tình cảm thiêng liêng của nhân dan hai miền Nam – Bắc là sớm được sum họp trong một đại gia đình, mong muốn có một chính phủ thống nhất, một cơ quan đại diện quyền lực chung cho nhân dân cả nước.
Cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước kết thúc, nhân dân ta đã hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong phạm vi cả nước, đưa nước ta chuyển sang giai đoạn mới. Đây là điều kiện có tính quy luật để nhân dân ta thống nhất đất nước và đưa đất nước đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Như vậy, việc thống nhất đất nước về mặt nhà nước là một yêu cầu cấp thiết và là một tất yếu của cách mạng nước ta. Đồng thời nó hợp với quy luật phát triển của cách mạng Việt Nam.
* Quá trình thống nhất
Đáp lại nguyện vọng chính đáng của nhân dân cả nước, đồng thời phù hợp với thực tế lịch sử dân tộc – “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một” – Hội nghị lần thứ 24 Ban chấp hành TRung ương Đảng (9/1975) đã đề ra nhiệm vụ hoàn thành thống nhất đất nước về mặt nhà nước.
Nghị quyết của Đảng nêu rõ: “Thống nhất đất nước vừa là nguyện vọng tha thiết của nhân dân cả nước, vừa là quy luật khách quan của sự phát triển cách mạng Việt Nam, của lịch sử dân tộc Việt Nam”.
Từ ngày 15 đến 21 /11/1975, Hội nghị Hiệp thương chính trị thống nhất đất nước được tổ chức tại Sài Gòn. Hai đoàn đại biểu đại diện cho hai miền tham dự. Hội nghị nhất trí hoàn toàn các vấn đề về chủ trương, biện pháp nhằm thống nhất đất nước về mặt nhà nước.
Ngày 25/4/1976, cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội chung được tiến hành trong cả nước. Hơn 23 triệu cử tri( chiếm 98.8% tổng số cử tri) đi bỏ phiếu và bầu ra 492 đại biểu.
Từ 24/6 đến 3/7/1976, Quốc hội khóa VI nước Việt Nam thống nhất họp kỳ đầu tiên tại Hà Nội.
Quốc hội thông qua chính sách đối nội và đối ngoại của Nhà nước Việt Nam thống nhất, quyết định đổi tên nước là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ( từ ngày 2/7/1976), quyết định Quốc huy mang dòng chữ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, QUốc kỳ là lá Cờ đỏ sao vàng, Quốc ca là bài Tiến quân ca, thủ đô là Hà Nội, thành phố Sài Gòn – Gia Định được đổi tên là Thành phố Hồ Chí Minh.
Quốc hội đã bầu các cơ quan, chức vụ lãnh đạo cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bầu Ban dự thảo Hiến pháp. Tôn Đức Thắng được bầu làm chủ tịch nước, Trường Chinh được bầu làm chủ tịch Ủy ban thường vụ QUốc hội, Phạm Văn Đồng làm thủ tướng.
Ở địa phương, Quốc hội quyết định tổ chức thành ba cấp chính quyền: cấp tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương, cấp huyện và tương đương, cấp xã và tương đương. Ở mỗi cấp có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân.
Với kết quả của kì họp thứ nhất QUốc hội khóa VI, công việc thống nhất đất nước về mặt nhà nước đã hoàn thành. Từ đây, việc tiếp tục hoàn thành thống nhất trên tất cả các lĩnh vực chính trị, tư tưởng, kinh tế, văn hóa, xã hội, sẽ gắn liền với việc thực hiện những nhiệm vụ của cách mạng xã hội chủ nghĩa trong phạm vi cả nước.
Ngày 31/1/1977, Đại hội đại biểu các Mặt trận của hai miền Nam – Bắc đã họp ở thành phố Hồ Chí Minh, quyết định thống nhất các Mặt trận thành Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. .
Ngày 18/12/1980, Hiến pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được Quốc hội thông qua.
* Ý nghia của việc thống nhất đất nước về mặt nhà nước
Hoàn thành thống nhất đất nước về mặt nhà nước là một yêu cầu tất yếu khách quan của sự phát triển cách mạng Việt Nam và kết quả giành được đó thể hiện lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết dân tộc, ý chí thống nhất Tổ quốc, quyết tâm xây dựng một nước Việt Nam độc lập, thống nhất của toàn thể nhân dân ta.
Hoàn thành thống nhất đất nước về mặt nhà nước đa tạo nên những điều kiện chính trị cơ bản để phát huy toàn diện sức mạnh của đất nước, tạo điều kiện thuận lợi để cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, tạo ra những khả năng to lớn trong việc phát triển kinh tế, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc, mở rộng quan hệ hữu nghị, hợp tác với các nước trên thế giới, nâng cao vị thế của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trên trường quốc tế.
Việc hoàn thành thống nhất về mặt nhà nước và việc nước VN đã hòa bình, thống nhất đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc mở rộng quan hệ đối ngoại. Ngày 2/7/1976 khi nước CHXHCNVN tuyên bố thành lập thì đã có 94 nước đặt quan hệ ngoại giao. Đến 1980 đã tăng lên 106 nước, đến 31/21/1989 có 114 nước đặt quan hệ ngoại giao, trong đó có 76 nước có đặt quan hệ thương mại. Ngày 20/9/1977, nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trở thành thành viên thứ 149 của Liên Hợp quốc. Từ đây ta có tiếng nói trên trường quốc tế, tham gia vào những công việc chung của thế giới.