Đảng và chính quyền cách mạng đã có chủ trương và biện pháp gì nhằm giải quyết những nhiệm vụ cấp bách sau khi kháng chiến chống Mĩ thắng lợi?
Với đại thắng mùa xuân 1975, cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước kết thúc, miền Nam hoàn toàn giải phóng cùng với miền Bắc tiếp bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Trên con đường đó, ở mỗi miền có nhiều thuận lợi và cũng gặp không ít khó khăn.
* Những thuận lợi
Trải qua hơn 20 năm (1954 – 1975) tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa, miền Bắc đã đạt được những thành tựu to lớn và toàn diện, đã xây dựng được những xơ sở vật chất – kĩ thuật ban đầu của chủ nghĩa xã hội. Miền Nam hoàn toàn giải phóng, chế độ thực dân mới của Mĩ cùng bộ máy chính quyền trung ương Sài Gòn bị sụp đổ, tạo điều kiện thuận lợi cho việc hoàn thành các nhiệm vụ đặt ra. Chiến tranh kết thúc, đất nước thống nhất, hòa bình trở lại là điều kiện quan trọng để thống nhất toàn diện đất nước và để nhân dân cả nước chung tay xây dựng xã hội chủ nghĩa.
* Những khó khăn
Ở miền Bắc, cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của Mĩ đã tàn phá nặng nề, gây hậu quả lâu dài đối với miền Bắc. “Chiến tranh phá hoại của Mĩ đã phá hủy hầu hết những cái mà nhân dân ta đã tốn biết bao công sức để xây dựng nên, làm cho quá trình tiến lên sản xuất lớn bị chậm lại đến vài ba kế hoạch 5 năm”.
Ở miền Nam, các cơ sở của chủ nghĩa thực dân mới ở địa phương vùng mới giải phóng cùng bao di hại xã hội vẫn còn tồn tại.
Kinh tế hai miền phát triển mất cân đối, sản xuất nhỏ phân tán là chủ yếu, lệ thuộc nặng nề vào viện trợ từ bên ngoài. Đội ngũ thất nghiệp lên tới hàng triệu người. Cuộc chiến tranh của Mĩ đã gây ra hậu quả nặng nề. Nhiều làng mạc, đồng ruộng bị tàn phá. Nửa triệu héc ta ruộng đất bị bỏ hoang. Một triệu hec ta rừng bị chất độc hóa học và bom đạn cày xới. Vô số bom mìn còn bị vùi lấp trên các cánh đồng, ruộng vườn và nơi cư trú của nhân dân. Đội ngũ thất nghiệp lên tới hang triệu người. Số người mù chữ chiếm tỷ lệ lớn trong dân cư. Miền Nam có nền kinh tế trong chừng mực nhất định phát triển theo hướng tư bản chủ nghĩa, song về cơ bản vẫn mang tính chất của kinh tế nông nghiệp, sản xuất nhỏ và phân tán, phát triển không cân đối, lệ thuộc nặng nề vào viện trợ bên ngoài.
Chính vì vậy, để giải quyết những khó khăn đó,Đảng và chính quyền cách mạng đã có chủ trương và biện pháp nhằm giải quyết những nhiệm cụ cấp bách sau chiến tranh, đó là khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục và phát triển kinh tế - xã hội, hoàn thành thống nhất đất nước về mặt nhà nước. Những nhiệm vụ này được thực hiện đồng thời và phối hợp nhau ở từng miền.
Ở miền Bắc, nhiệm vụ trọng tâm là khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục và phát triển kinh tế - xã hội. Những nhiệm vụ này được thực hiện từ sau Hiệp định Pari 1973 về Việt Nam, và đã đạt được những thành tựu đáng kể. Ở miền Bắc, cuộc chiến tranh phá hoại của Mĩ đã chấm dứt sau Hiệp định Pari năm 1973 về Việt Nam, nhưng do vị tàn phá nặng nề nên đến giữa 1976, mới căn bản hoàn thành nhiệm vụ khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục kinh tế.
Trong việc thực hiện kế hoạch Nhà nước 6 tháng cuối năm 1975 và 6 tháng đầu 1976, miền Bắc có những tiến bộ đáng kể. Diện tích trồng lúa, hoa màu, cây công nghiệp năm 1976 đều tăng hơn năm 1975. Nhiều công trình, nhà máy được mở rộng và xây dựng mới. Sản lượng phần lớn các sản phẩm quan trọng đều đạt và vượt mức trước chiến tranh. Sự nghiệp văn hóa, giáo dục, y tế phát triển mạnh.
Miền Bắc còn làm nghĩa vụ của căn cứ địa cách mạng cả nước và nghĩa vụ quốc tế đối với Lào, Campuchia trong thời kỳ mới.
Ở miền Nam, nhiệm vụ trọng tâm cũng là khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục và phát triển kinh tế - xã hội, ổn định tình hình ở những vùng mới giải phóng. Ở miền Nam, công việc tiếp quản vùng mới giải phóng từ thành thị đến nông thôn, từ đất liền đến hải đảo, từ căn cứ quân sự đến các cơ sở sản xuất, hành chính, văn hóa được tiến hành khẩn trương.
Ở những vùng mới giải phóng, việc thành lập chính quyền cách mạng và đoàn thể quần chúng các cấp nhanh chóng được thực hiện. Tại các thành phố lớn như Sài Gòn, Huế, Đà Nẵng… chính quyền cách mạng tuyên bố thành lập ngay sau khi được giải phóng.
Với sự hướng dẫn và giúp đỡ của Nhà nước, hàng triệu đồng bào ta, trong thời gian chiến tranh bị dồn vào các “ấp chiến lược” hay bỏ chạy vào các thành phố, không có việc làm, được hồi hương, chuyển về nông thôn tham gia sản xuất hoặc đi xây dựng vùng kinh tế mới.
Chính quyền cách mạng tịch thu toàn bộ tài sản và ruộng đất của bọn phản động trốn ra nước ngoài, tuyên bố xóa bỏ quan hệ bóc lột phong kiến, tiến hành điều chỉnh ruộng đất trong nội bộ nông dân, quốc hữu hóa ngân hàng, thay đồng tiền cũ bằng đồng tiền mới cách mạng.
Chính quyền cách mạng chú trọng khôi phục sản xuất nông nghiệp để đáp ứng nhu cầu cấp bách lâu dài của nhân dân về lương thực. Các cơ sở sản xuất công nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp, cả những cơ sở bị gián đoạn quan hệ với nước ngoài, đều hoạt động trở lại.
Các hoạt động văn hóa, giáo dục, y tế được tiến hành khẩn trương từ những ngày đầu mới giải phóng.
Tóm lại, với những chủ trương và biện pháp của Đảng và chính quyền cách mạng, các nhiệm vụ cấp bách trước mắt của hai miền nước ta đã đạt được những thành tựu đáng kể. Nó tạo cơ sở cho công cuộc hoàn thành thống nhất đất nước về mặt nhà nước của cách mạng ta trong 1975 – 1976.